Động lực mới cho tăng trưởng 2 con số

Bước vào giai đoạn phát triển mới 2026–2030, kinh tế Việt Nam đứng trước yêu cầu vừa giữ vững ổn định vĩ mô, vừa tạo bứt phá mạnh mẽ để hiện thực hóa mục tiêu tăng trưởng cao. Từ góc nhìn của các chuyên gia kinh tế và nhà hoạch định chính sách, chìa khóa cho giai đoạn tới nằm ở việc nâng cao chất lượng tăng trưởng, đột phá thể chế và tư duy quản lý, phát triển lực lượng sản xuất mới, đồng thời đánh thức mạnh mẽ động lực của khu vực kinh tế tư

Bà Nguyễn Thị Mai Hạnh, Trưởng ban Hệ thống tài khoản quốc gia (Cục Thống kê, Bộ Tài chính)

Nỗ lực vượt bậc cho mục tiêu tăng trưởng cao

Tăng trưởng kinh tế năm 2025 đạt kế hoạch là kết quả tích cực, cho thấy nội lực và khả năng thích ứng của nền kinh tế Việt Nam đang dần được củng cố. Đây là điểm tựa tốt cho tăng trưởng kinh tế trong năm 2026 và những năm sau. Tuy nhiên, bước sang giai đoạn mới 2026-2030, kinh tế đứng trước nhiều thách thức, cơ hội đan xen, việc duy trì và đạt được mục tiêu tăng trưởng kinh tế cao trong những năm tiếp theo đòi hỏi sự nỗ lực vượt bậc của cả nền kinh tế, đồng thời phải hội tụ đồng bộ nhiều điều kiện quan trọng, cả về nền tảng vĩ mô, nguồn lực tăng trưởng, chất lượng phát triển và năng lực điều hành chính sách.

Trước hết, giữ vững ổn định kinh tế vĩ mô là điều kiện tiên quyết. Việc kiểm soát lạm phát, bảo đảm an toàn nợ công, duy trì các cân đối lớn của nền kinh tế và điều hành chính sách tài khóa - tiền tệ theo hướng linh hoạt, thận trọng sẽ góp phần tạo môi trường thuận lợi cho hoạt động đầu tư, sản xuất và kinh doanh, tăng khả năng chống chịu của nền kinh tế, qua đó hỗ trợ tăng trưởng kinh tế bền vững.

Huy động và sử dụng hiệu quả các nguồn lực cho tăng trưởng giữ vai trò then chốt. Đầu tư công cần tiếp tục phát huy vai trò dẫn dắt, tập trung vào các lĩnh vực hạ tầng then chốt, tăng cường giải ngân vốn đầu tư công đúng tiến độ, đặc biệt là các dự án trọng điểm quốc gia, nâng cao hiệu quả phân bổ vốn, tránh đầu tư dàn trải, lãng phí. Đồng thời, cần tạo điều kiện thuận lợi để khu vực đầu tư tư nhân phát triển, trở thành động lực quan trọng của tăng trưởng. Việc thu hút đầu tư FDI cần được thực hiện theo hướng có chọn lọc, gắn với chuyển giao công nghệ, bảo vệ môi trường và tăng cường liên kết với khu vực kinh tế trong nước.

Chất lượng và hiệu quả tăng trưởng cũng cần được nâng cao. Tăng trưởng kinh tế cần chuyển dần từ mô hình dựa nhiều vào vốn và lao động sang mô hình dựa trên nâng cao năng suất, hiệu quả phân bổ nguồn lực và chuyển dịch cơ cấu kinh tế theo hướng hiện đại, bền vững.

Bên cạnh đó là đột phá năng suất lao động, cũng như nâng cao hiệu quả sử dụng vốn đầu tư thông qua việc đẩy mạnh ứng dụng khoa học - công nghệ và chuyển đổi số, đặc biệt trong các ngành, lĩnh vực có hàm lượng công nghệ cao, qua đó gia tăng giá trị gia tăng và nâng cao chất lượng tăng trưởng; tăng cường đào tạo gắn với nhu cầu thị trường, nhất là khu vực kinh tế tư nhân và các ngành giá trị cao, để tạo nền tảng cho tăng trưởng bền vững.

Việc tiếp tục hoàn thiện thể chế kinh tế thị trường, bảo đảm tính minh bạch, ổn định và nhất quán của chính sách, cùng với sự phối hợp chặt chẽ giữa các chính sách vĩ mô sẽ tạo nền tảng để các động lực tăng trưởng phát huy hiệu quả.

Tóm lại, để đạt được mục tiêu tăng trưởng kinh tế cao trong những năm tiếp theo, cần bảo đảm đồng thời ổn định kinh tế vĩ mô, huy động và sử dụng hiệu quả các nguồn lực, nâng cao chất lượng tăng trưởng, hoàn thiện thể chế và tăng cường khả năng thích ứng của nền kinh tế, qua đó bảo đảm tăng trưởng cao gắn với ổn định và phát triển bền vững trong trung và dài hạn.

GS.TS Hoàng Văn Cường, Ủy viên Ủy ban Kinh tế và Tài chính của Quốc hội

Bứt phá trong kỷ nguyên số đòi hỏi đột phá từ tư duy quản lý

Kinh nghiệm quốc tế cho thấy, không quốc gia nào vượt qua bẫy thu nhập trung bình chỉ bằng tăng trưởng trung bình. Muốn bước sang nhóm nước thu nhập cao, cần một giai đoạn bứt phá với tốc độ tăng trưởng hai con số. Việt Nam không phải ngoại lệ. Cơ hội đang mở ra từ cuộc Cách mạng công nghiệp lần thứ tư, nơi khoảng cách công nghệ được rút ngắn và lợi thế con người trở nên đặc biệt quan trọng.

Việt Nam đang đứng trước một cơ hội phát triển hiếm có trong lịch sử, khi Cách mạng công nghiệp lần thứ tư mở ra một “vạch xuất phát mới” cho hầu hết các quốc gia. Trong các lĩnh vực như kinh tế số, kinh tế xanh, trí tuệ nhân tạo hay tự động hóa, khoảng cách giữa các nước không còn quá xa. Ai tiếp cận nhanh hơn, lựa chọn đúng trọng tâm hơn, người đó sẽ có khả năng bứt phá.

Lợi thế lớn của Việt Nam trong giai đoạn này chính là con người. Nguồn nhân lực Việt Nam có trí tuệ tốt, khả năng thích ứng cao và tinh thần học hỏi mạnh mẽ. Đây là nền tảng quan trọng để đất nước có thể tận dụng cơ hội từ cuộc cách mạng công nghiệp mới. Tuy nhiên, để biến tiềm năng thành hiện thực, Việt Nam không có con đường nào khác ngoài việc phát triển dựa vào khoa học - công nghệ và đổi mới sáng tạo.

Vấn đề đặt ra là: rào cản lớn nhất hiện nay không nằm ở công nghệ, mà nằm ở thể chế và tư duy quản lý. Đổi mới sáng tạo luôn đi kèm với rủi ro. Muốn có cái mới thì phải chấp nhận thử nghiệm, chấp nhận khả năng sai. Nhưng trong thực tế, rủi ro lớn nhất không phải là rủi ro công nghệ, mà là rủi ro của người ra quyết định. Người cán bộ dám nghĩ, dám làm, dám ký, dám chịu trách nhiệm cho những cách làm mới hiện nay vẫn chưa thực sự được bảo vệ bằng một cơ chế đủ rõ ràng.

Song song với cải cách thể chế, đầu tư hạ tầng vẫn là trụ cột không thể thiếu cho phát triển. Tuy nhiên, hạ tầng ngày nay không chỉ là đường sá, sân bay hay cảng biển, mà còn là hạ tầng số, hạ tầng dữ liệu, trung tâm dữ liệu quốc gia, hạ tầng viễn thông và công nghệ thông tin. Muốn phát triển kinh tế số, kinh tế tri thức, hạ tầng số phải được đầu tư đồng bộ và đi trước một bước.

Trong bối cảnh thế giới đa cực hiện nay, Việt Nam chưa thể đóng vai trò dẫn dắt toàn cầu, nhưng hoàn toàn có thể làm chủ cuộc chơi trên sân nhà. Từ nền tảng đó, Việt Nam tham gia sâu hơn vào các chuỗi giá trị khu vực và toàn cầu. Điều quan trọng là phải có một chiến lược phát triển rõ ràng, xác định được những ngành, lĩnh vực và phân khúc mà Việt Nam có thể làm chủ, thay vì dàn trải nguồn lực và chạy theo xu hướng.

Trong một thế giới đầy biến động và bất định, phong cách điều hành không thể là chờ đợi. Điều Việt Nam cần là bản lĩnh, linh hoạt và quyết liệt bứt phá, nhưng trên một nền tảng ổn định. Chỉ khi đó, khát vọng phát triển mới có thể được biến thành hiện thực.

TS. Nguyễn Văn Lộc, Chuyên gia Kinh tế Trường Đại học Kinh tế, Đại học Quốc Gia Hà Nội

Ðánh thức động lực kinh tế tư nhân

Việt Nam đang đứng trước cơ hội lịch sử khi bước vào năm 2026 với nền kinh tế quy mô 514 tỷ USD, tăng trưởng GDP 8,02% năm 2025 vượt toàn bộ 15/15 chỉ tiêu chủ yếu, GDP bình quân đầu người đạt 5.026 USD và tham vọng tăng trưởng hai con số để trở thành nền kinh tế lớn thứ 32 thế giới. Tổng Bí thư Tô Lâm khẳng định đất nước đã hội tụ đủ thế và lực, nhưng việc khai thác hiệu quả nguồn lực hiện hữu vẫn bị kìm hãm bởi các điểm nghẽn lớn, đòi hỏi hành động quyết liệt để biến năm bản lề này thành bước ngoặt phát triển bền vững.

Nghị quyết số 68 ban hành ngày 4/5/2025 của Bộ Chính trị đánh dấu một bước ngoặt lịch sử trong tư duy phát triển kinh tế dân tộc. Thay vì chỉ dừng lại ở vai trò động cơ quan trọng, Nghị quyết 68 xác lập vị thế của kinh tế tư nhân là chủ thể dẫn dắt sự thay đổi trong kỷ nguyên số và xanh, hướng tới mục tiêu đóng góp 55% GDP quốc gia vào năm 2030. Tư duy cốt lõi của Nghị quyết là giải phóng tối đa, khơi thông mọi điểm nghẽn để tạo ra một môi trường kinh doanh minh bạch, nơi niềm tin của doanh nhân được bảo vệ bằng những cam kết pháp lý cao nhất.

Khi mùa xuân đến, câu hỏi đặt ra không phải là kinh tế tư nhân “có vai trò hay không”, mà là làm thế nào để đánh thức toàn bộ tiềm năng của khu vực này, để động lực ấy thực sự vận hành trong đời sống kinh tế.

Nghị quyết 68 đã trực tiếp nhận diện rào cản lớn nhất kìm hãm sức bật của doanh nghiệp chính là hệ thống tín dụng hiện nay vẫn quá phụ thuộc vào tài sản thế chấp. Nhà nước không chỉ dừng lại ở các gói hỗ trợ lãi suất 2%/năm cho các dự án xanh và tuần hoàn theo chuẩn ESG, mà còn chỉ đạo thiết lập một hệ thống tài chính đa tầng, lấy hiệu quả kinh doanh và tiềm năng tăng trưởng làm thước đo thay cho tài sản vật chất.

Điểm đột phá nhất nằm ở tư duy kiến tạo dòng vốn bền vững thông qua chính sách thuế và thẩm định tín dụng hiện đại. Song song đó, Chính phủ đẩy mạnh thể chế hóa việc sử dụng dữ liệu thuế và lịch sử thanh toán điện tử làm cơ sở thẩm định tín dụng, đồng thời nâng cấp các quỹ bảo lãnh tín dụng để Nhà nước thực sự chia sẻ rủi ro với ngân hàng. Khi rủi ro thể chế được cắt giảm và Nhà nước chấp nhận đồng hành, dòng vốn xã hội sẽ được giải phóng khỏi trạng thái phòng thủ để chảy mạnh vào sản xuất, giúp doanh nghiệp tư nhân chiếm lĩnh vị thế dẫn dắt đầu tư xã hội với tỷ trọng ổn định 58-60%.

Nghị quyết 68 đã thực hiện một bước bứt phá lịch sử khi chủ trương mở rộng cánh cửa cho kinh tế tư nhân tham gia vào mọi lĩnh vực, kể cả những nơi trước đây được coi là vùng cấm. Nhà nước áp dụng cơ chế đặt hàng và chỉ định thầu đối với các dự án trọng điểm như đường sắt tốc độ cao, công nghiệp bán dẫn, năng lượng sạch và hạ tầng số cho những tập đoàn tư nhân nội địa đủ năng lực.

TPHCM - một cực tăng trưởng quan trọng Ảnh: P.V

Cơ chế này không chỉ đơn thuần là giao việc, mà là sự thiết lập một sân chơi công bằng thông qua các hợp đồng dài hạn và cơ chế chia sẻ rủi ro hợp lý giữa Nhà nước và tư nhân.

Việc thể chế hóa khát vọng dân tộc vào các chương trình như Go Global hay phát triển 1.000 doanh nghiệp tiên phong sẽ giúp doanh nghiệp Việt vươn tầm quốc tế, sòng phẳng cạnh tranh trong những lĩnh vực công nghệ khó như AI và ô tô điện. Đặc biệt, sự cam kết bảo vệ quyền lợi doanh nhân qua việc dân sự hóa các quan hệ kinh tế và áp dụng nguyên tắc suy đoán vô tội sẽ giúp giải tỏa tâm lý lo ngại, khơi dậy tinh thần dấn thân để kinh tế tư nhân vững vàng đóng góp 55% GDP vào năm 2030.

TS. Nguyễn Minh Phong, Ủy viên Hội đồng tư vấn Kinh tế, Ủy ban Trung ương Mặt trận tổ quốc Việt Nam:

Phát triển lực lượng sản xuất mới, công nghệ cao

Nước ta đã đi qua giai đoạn tăng trưởng nhanh nhờ “mẫu số nhỏ”, tương tự chu kỳ phát triển của nhiều nền kinh tế khác. Khi quy mô kinh tế đã lớn hơn, việc duy trì tốc độ tăng trưởng cao rõ ràng khó hơn rất nhiều, giống các nền kinh tế lớn như Mỹ gần như không còn tăng trưởng mạnh, trừ những giai đoạn phục hồi đặc biệt sau suy giảm kinh tế. Như vậy, mục tiêu tăng trưởng hai con số của Việt Nam trong giai đoạn 2026 - 2030 trở đi là tham vọng lớn, tuy nhiên, có những cơ sở nhất định cho mục tiêu này.

Trước hết là nền tảng tăng trưởng tích lũy từ nhiều năm đổi mới đã tạo ra tiền đề quan trọng, từ thể chế, hạ tầng vật chất, pháp luật cho đến tinh thần và định hướng phát triển. Quan trọng hơn, Việt Nam đang từng bước hình thành một bộ phận lực lượng sản xuất mới. Đây không phải lực lượng hoàn toàn mới, mà là sự nâng cấp của lực lượng sản xuất hiện hữu với tỷ trọng ngày càng cao, gắn với trí tuệ nhân tạo (AI), công nghệ số, internet, robot, vật liệu mới, năng lượng sạch và các phương thức sản xuất tiên tiến.

Song song với đó là sự chuyển biến về chất lượng lao động. Lực lượng lao động mới có trình độ cao hơn, tư duy toàn cầu hơn và khả năng thích ứng tốt hơn với chuỗi giá trị quốc tế. Đây chính là yếu tố then chốt quyết định tăng trưởng trong tương lai, đặc biệt khi xu thế này đang diễn ra mạnh mẽ trên toàn cầu.

Kinh tế vượt gió ngược, tạo nền tảng bứt phá tăng trưởng hai con số giai đoạn tới (ảnh minh họa) Ảnh: P.V

Việc phát triển lực lượng sản xuất mới là cơ hội quan trọng giúp Việt Nam vượt bẫy thu nhập trung bình và hướng tới tăng trưởng hai con số. Thực tế cho thấy, trong nhiều năm liên tiếp, các lĩnh vực kinh tế số, công nghệ cao đã ghi nhận tốc độ tăng trưởng rất cao, tạo ra “bằng chứng vật chất” cho định hướng này.

Việt Nam đang chủ trương đẩy mạnh đầu tư, cả đầu tư công lẫn đầu tư tư nhân. Đầu tư công tăng mạnh, có giai đoạn lên tới 30-40%, tập trung vào hạ tầng, chuyển đổi số, chuyển đổi năng lượng và cả nhà ở xã hội, qua đó tạo động lực lan tỏa cho toàn nền kinh tế.

Ở góc độ bên ngoài, Việt Nam cũng đang đứng trước cơ hội từ quá trình tái cơ cấu chuỗi cung ứng toàn cầu. Trong bối cảnh cạnh tranh địa chính trị và xu hướng dịch chuyển sản xuất khỏi Trung Quốc, Việt Nam được xem là điểm đến tiềm năng của nhiều tập đoàn lớn, nhờ chính sách dung hòa và hội nhập rộng mở.

Khu vực kinh tế tư nhân cũng đóng vai trò quyết định trong việc thực hiện mục tiêu tăng trưởng hai con số. Nếu tiếp tục tháo gỡ các rào cản, nâng tầm doanh nghiệp nhỏ và vừa, cũng như thúc đẩy hàng triệu hộ kinh doanh chuyển đổi lên doanh nghiệp, nền kinh tế sẽ có thêm một động lực tăng trưởng rất lớn. Khi doanh nghiệp tư nhân thực sự muốn lớn và dám lớn, không còn lo ngại bị chèn ép hay rủi ro thể chế, khu vực này sẽ tạo ra sức bật mới cho tăng trưởng. Đây được xem là nhân tố quyết định khả năng hiện thực hóa mục tiêu tăng trưởng kinh tế hai con số của Việt Nam trong những năm tới.

Tuy nhiên, tăng trưởng cao phải đi kèm với ổn định và bền vững. Bài toán đặt ra là làm sao tăng trưởng nhanh nhưng lạm phát vượt mức cho phép, không làm gia tăng nợ xấu, không phát sinh tham nhũng và lãng phí - một thách thức lớn về điều hành. Những định hướng lớn sẽ tiếp tục được làm rõ trong các văn kiện thời gian tới, đặc biệt là sau Đại hội XIV, để thể chế hóa thành luật pháp, chương trình hành động và các biện pháp điều hành cụ thể của Chính phủ.

Link nội dung: https://doanhnhanngaynay.com/dong-luc-moi-cho-tang-truong-2-con-so-a263672.html