Một thời vàng son
Những ngày giáp Tết, phóng viên tìm đến làng nghề ươm tơ, dệt nhiễu Hồng Đô (xã Thiệu Trung, Thanh Hóa) từng nổi tiếng một thời, nay không còn tiếng guồng quay rì rào, không còn những nong tằm trắng kín sân nhà, làng nghề ươm tơ dệt nhiễu từng một thời "kẻ vồ, người vập" giờ chỉ còn trong ký ức.
Giữa sự vắng lặng ấy, trong một căn nhà nhỏ ở tiểu khu, guồng tơ vẫn quay đều mỗi ngày. Ông Lê Văn Trường, 51 tuổi, và vợ là bà Hoàng Thị Vân lặng lẽ kéo những sợi tơ trắng mịn, mềm như khói. Họ là hộ duy nhất còn bám trụ với nghề.

Vợ chồng ông Lê Văn Trường và bà Hoàng Thị Vân lặng lẽ níu giữ nghề.
Theo "Địa chí Thiệu Hóa", có thời hơn 70% hộ dân Hồng Đô tham gia vào nghề dệt lụa. Cả làng phân công rành rẽ: phụ nữ ngồi khung cửi, bà già và trẻ nhỏ ươm tơ, kéo sợi. Những câu ca vẫn còn vang trong tâm thức:
"Đẹp nhất là nhiễu Hồng Đô/
Mênh mông bể sở bãi ngô Kẻ Phùng"
Hay: "Chè xanh làng Núi/ Nhiễu tơ làng Hồng".

Những kén tằm thả vào nước sôi để kéo sợi tơ.

Những sợi tơ mảnh và mềm mại như sương.
Có thời điểm, làng có hơn 300 khung dệt, gần 500 thợ lành nghề, sản phẩm xuất sang Lào, Trung Quốc. Nghề mang lại thu nhập ổn định cho cả nghìn lao động. Để giữ bí quyết, gái làng xưa không gả chồng xa. Người nuôi tằm kiêng đủ điều, sợ "ông tằm" bệnh mà chết. Con tằm khi ấy không chỉ là sinh kế, mà là niềm tự hào.
Guồng tơ cuối cùng
Ông Trường sinh ra trong gia đình nhiều đời làm nghề. Tuổi thơ ông gắn với những buổi nhặt kén, quay tơ sau giờ học. "Làm nghề này phải quen tay từ nhỏ. Người mới học rất khó theo", ông nói, mắt không rời guồng quay.

Ông Trường là hộ dân cuối cùng bám trụ với nghề ươm tơ ở Hồng Đô.
Hiện trong làng không còn ai trồng dâu, nuôi tằm. Muốn có nguyên liệu, ông phải nhập kén từ Sơn La, giá khoảng 250.000 đồng mỗi kg. Kén được lựa kỹ, thả vào nồi nước sôi, dùng đũa quấy cho tơ nhả ra rồi kéo vào guồng. Nhiệt độ nước phải chuẩn, tay quay phải đều. Chỉ sơ suất một chút, sợi tơ sẽ đứt.
Mỗi kg tơ thành phẩm bán được khoảng 1,2 triệu đồng. So với giá đầu vào, vẫn có lãi. Nhưng công việc nặng nhọc, phụ thuộc hoàn toàn vào sức người, sản lượng lại ít. Ông bà làm chủ yếu bằng đôi tay và ký ức.

Ông Trường cho biết: "Bỏ nghề thì thương, nghề của cha ông".
Bà Vân bảo, nhiều lúc cũng muốn nghỉ, nhưng rồi lại tiếc. "Bỏ thì thương lắm. Nghề của cha ông để lại".
Ngoài kia, thanh niên trong làng đã đi làm công ty. Công việc theo ca tuy vất vả nhưng lương đều mỗi tháng. So với việc ngồi quay tơ cả ngày, thu nhập bấp bênh, nghề truyền thống dần bị bỏ lại phía sau.
Ông Hoàng Viết Đức, người từng điều hành doanh nghiệp ươm tơ dệt lụa lớn nhất nhì vùng, nhớ lại cách đây chục năm, cơ sở của ông tạo việc làm cho hơn 50 lao động. Nhưng rồi giá tơ giảm mạnh, thị trường thu hẹp, sản phẩm khó cạnh tranh với sợi tổng hợp và hàng may công nghiệp. Các cơ sở lần lượt đóng cửa.

Nghề ươm tơ vẫn có thu nhập, tuy nhiên thu nhập không xứng với công sức bỏ ra nên người dân không mặn mà.
"Không phải người dân không yêu nghề. Nhưng làm không có lãi thì không thể bám mãi", ông Đức nói. Dù công ty đã dừng hoạt động, ông vẫn giữ lại những guồng quay, như cách níu lại kỷ vật cuối cùng với nghề truyền thống.
Lãnh đạo UBND xã Thiệu Trung cho biết, làng nghề từng được UBND tỉnh Thanh Hóa đầu tư hạ tầng từ năm 2014. Tuy nhiên, do hiệu quả kinh tế thấp, đầu ra bấp bênh, người dân dần bỏ nghề. "Xã mong muốn khôi phục, phát triển làng nghề truyền thống, nhưng bà con không còn tha thiết. Sắp tới, địa phương đang đề xuất chuyển đổi làng nghề sang hướng khác", đại diện UBND xã nói.
Còn ông Trường, điều ông trăn trở nhất không phải thu nhập, mà là tương lai của nghề. Muốn khôi phục phải có đất trồng dâu, nuôi tằm. Nhưng quỹ đất không còn. Muốn truyền nghề phải có người học. Nhưng lớp trẻ đã chọn con đường khác.
"Ít nhất cũng phải giữ được nghề, để con cháu sau này biết quê mình từng có một nghề như thế", ông nói.
Chiều cuối năm, nắng nhạt hắt qua khung cửa. Guồng tơ vẫn quay, tiếng lách cách nhỏ nhoi giữa không gian tĩnh lặng. Ngoài kia, chợ Tết đã rộn ràng, nhưng trong căn nhà nhỏ ở Hồng Đô, Tết đến bằng mùi kén luộc và những sợi tơ trắng mảnh như sương. Có lẽ, đó cũng là sợi dây cuối cùng níu giữ hồn làng giữa vòng xoáy đổi thay.
Link nội dung: https://doanhnhanngaynay.com/lua-nghe-o-hong-do-sap-tat-chi-con-mot-guong-to-quay-niu-ky-uc-vang-son-a266684.html