Việt Nam không hẳn thiếu vốn, vậy thiếu gì?

Ông Dương Thanh Tùng - Phó Tổng Giám đốc Deloitte Việt Nam - nhận định, Việt Nam không hẳn “thiếu vốn”, mà thiếu “cấu trúc hấp thụ vốn” phù hợp với các dòng vốn dài hạn.

Cần khoảng 38,5 triệu tỷ đồng vốn đầu tư toàn xã hội

Tại hội thảo "Huy động hiệu quả nguồn vốn, phục vụ mục tiêu tăng trưởng hai con số," diễn ra chiều 12/3, Thứ trưởng Bộ Tài chính Nguyễn Đức Chi khẳng định, mục tiêu huy động tổng vốn đầu tư toàn xã hội đạt khoảng 40% GDP trong giai đoạn 2026-2030 là một con số tham vọng, nhưng hoàn toàn khả thi nếu Việt Nam khơi thông được các nguồn lực tiềm ẩn.

Việt Nam không hẳn thiếu vốn, vậy thiếu gì?- Ảnh 1.

Thứ trưởng Bộ Tài chính Nguyễn Đức Chi. Ảnh: Nguyễn Hải.

Năm 2025, nền kinh tế đã có bước đệm vững chắc khi tăng trưởng GDP đạt 8,02% và tổng khối lượng huy động vốn trên thị trường đạt mức kỷ lục 1,15 triệu tỷ đồng. Tuy nhiên, trước yêu cầu của kỷ nguyên mới, nhu cầu vốn cho các dự án hạ tầng chiến lược như kết nối Bắc - Nam và các dự án liên vùng là cực kỳ lớn.

Cộng đồng doanh nghiệp cần nguồn lực để mở rộng sản xuất, trong khi thị trường vốn trong nước vẫn còn khiêm tốn. Mặt khác, các quỹ đầu tư chứng khoán, quỹ hưu trí chưa phát huy hết tiềm năng

Bà Phạm Thị Thanh Tâm - Phó Vụ trưởng Vụ Các định chế tài chính, Bộ Tài chính - đánh giá, nhu cầu huy động vốn cho giai đoạn 2026-2030 là rất lớn, gần gấp hai lần so với giai đoạn 2021-2025. Mục tiêu tăng trưởng hai con số trong giai đoạn 2026 - 2030 cần đồng thời bảo đảm quy mô vốn đầu tư lớn và cải thiện mạnh mẽ hiệu quả sử dụng vốn.

Việt Nam không hẳn thiếu vốn, vậy thiếu gì?- Ảnh 2.

Bà Phạm Thị Thanh Tâm - Phó Vụ trưởng Vụ Các định chế tài chính (Bộ Tài chính)

Ước tính, tổng vốn đầu tư toàn xã hội trong giai đoạn này cần đạt khoảng 38,5 triệu tỷ đồng, cao hơn gấp đôi so với giai đoạn 2021 - 2025. Đồng thời, tỷ lệ đầu tư/GDP bình quân cần nâng lên khoảng 40%, cao hơn mức bình quân khoảng 33% trong giai đoạn trước.

Trong những năm gần đây, tổng vốn đầu tư toàn xã hội của Việt Nam duy trì ở mức khoảng 32-34% GDP - tương đối cao đối với nền kinh tế đang phát triển. Tuy nhiên, nếu so sánh với các quốc gia từng duy trì tăng trưởng cao trong thời gian dài như Hàn Quốc, Singapore, Trung Quốc. Quy mô vốn đầu tư của Việt Nam vẫn chưa đủ để tạo ra bước bứt phá mạnh mẽ, trong khi hiệu quả sử dụng vốn còn hạn chế.

Do đó, song song với việc tăng yêu cầu về quy mô vốn đầu tư, hiệu quả sử dụng vốn phải được cải thiện rõ rệt. Lãnh đạo Chính phủ đã chỉ đạo việc giảm hệ số ICOR (đo lường hiệu quả sử dụng vốn đầu tư) từ mức bình quân khoảng 6,3 giai đoạn 2021-2025 xuống còn khoảng 4,8 trong giai đoạn 2026-2030.

Xét theo cơ cấu khu vực, vốn đầu tư nhà nước cần tăng bình quân khoảng 22%/năm; vốn đầu tư khu vực ngoài nhà nước tăng khoảng 20%/năm; vốn đầu tư nước ngoài tăng khoảng 18%/năm Cơ cấu này cho thấy, tăng trưởng hai con số không thể chỉ dựa vào ngân sách nhà nước mà phải dựa vào sự bứt phá đồng thời của khu vực tư nhân trong nước và dòng vốn FDI chất lượng cao.

Thị trường vốn là chìa khóa giảm áp lực

Ở góc độ điều hành chính sách tiền tệ, ông Nguyễn Lê Nam - Phó Vụ trưởng Vụ Chính sách tiền tệ, Ngân hàng Nhà nước Việt Nam - cho rằng, mục tiêu tăng trưởng cao đặt ra yêu cầu huy động, phân bổ và sử dụng hiệu quả mọi nguồn lực, trong đó tín dụng ngân hàng vẫn giữ vai trò quan trọng.

Năm 2025, tín dụng toàn hệ thống tăng hơn 19%, mức cao nhất trong nhiều năm, góp phần vào tăng trưởng GDP 8,02%. Tuy nhiên, tỷ lệ tín dụng/GDP đã vượt 144%, thuộc nhóm cao trong các nước thu nhập trung bình thấp. Điều này đặt ra rủi ro khi vốn trung, dài hạn của nền kinh tế vẫn phụ thuộc lớn vào hệ thống ngân hàng - trong khi nguồn huy động chủ yếu là ngắn hạn.

Trong bối cảnh thế giới biến động mạnh từ xung đột địa chính trị đến chính sách thận trọng của các ngân hàng trung ương lớn như Cục Dự trữ Liên bang Mỹ, áp lực tỷ giá, lãi suất và lạm phát ngày càng gia tăng. Giá năng lượng tăng cao càng khiến dư địa điều hành chính sách tiền tệ thu hẹp.

Việt Nam không hẳn thiếu vốn, vậy thiếu gì?- Ảnh 3.

Mục tiêu tăng trưởng cao đặt ra yêu cầu huy động, phân bổ và sử dụng hiệu quả mọi nguồn lực.

Theo ông Nam, kinh nghiệm quốc tế cho thấy tăng trưởng cao chỉ bền vững khi được đặt trên nền tảng ổn định vĩ mô và kiểm soát lạm phát. Do đó, chính sách tiền tệ thời gian tới sẽ tiếp tục được điều hành chủ động, linh hoạt, phối hợp chặt chẽ với chính sách tài khóa nhằm kiểm soát lạm phát, ổn định thị trường tiền tệ, đồng thời hướng tín dụng vào các lĩnh vực sản xuất kinh doanh, động lực tăng trưởng.

Tuy nhiên, về dài hạn, thị trường vốn mới là chìa khóa để giảm áp lực lên hệ thống ngân hàng. Ông Dương Thanh Tùng - Phó Tổng Giám đốc Deloitte Việt Nam - nhận định, Việt Nam không hẳn “thiếu vốn”, mà thiếu “cấu trúc hấp thụ vốn” phù hợp với các dòng vốn dài hạn.

Vốn dài hạn đòi hỏi hệ sinh thái thị trường đủ sâu, đủ minh bạch và có “cửa ra” rõ ràng như IPO, chuyển nhượng hay tái tài trợ. Trong khi đó, thị trường vốn Việt Nam dù cải thiện nhưng vẫn chưa đáp ứng được nhu cầu vốn trung, dài hạn của nền kinh tế .

Trong bối cảnh đó, việc xây dựng Trung tâm tài chính quốc tế tại TPHCM và Đà Nẵng được xem là bước đi chiến lược. Theo khuyến nghị của Deloitte, lộ trình phát triển nên bắt đầu từ giai đoạn khả thi cơ bản - xây dựng cơ chế cấp phép, giám sát, phòng chống rửa tiền và nền tảng dữ liệu. Sau đó mở rộng sản phẩm thị trường vốn, chuẩn hóa thị trường trái phiếu, quỹ đầu tư, rồi mới tiến tới kết nối sâu với khu vực và thu hút định chế toàn cầu.

Link nội dung: https://doanhnhanngaynay.com/viet-nam-khong-han-thieu-von-vay-thieu-gi-a272821.html