Khách Trung Quốc ngỡ ngàng khi đến Đà Nẵng: "Hóa ra ở đây không chỉ có biển, còn cả một ngọn núi đẹp như chốn bồng lai"

Nhắc đến Đà Nẵng, hầu như ai cũng nghĩ ngay đến những bãi biển trải dài, cầu Rồng phun lửa hay đỉnh Bà Nà mây phủ. Nhưng có một điểm đến nằm cách trung tâm chỉ chừng 8km về phía Đông Nam, lặng lẽ giữ trong lòng mình cả một bảo tàng thiên nhiên - tâm linh - lịch sử của miền Trung: Quần thể danh thắng Ngũ Hành Sơn.

Mới đây, một du khách Trung Quốc đã chia sẻ trải nghiệm nửa ngày khám phá nơi này với lời nhận xét khiến nhiều người Việt phải giật mình nhìn lại, hóa ra ngay sát biển Mỹ Khê, vẫn còn cả một "chốn bồng lai" mà chính chúng ta nhiều khi cũng quên mất.

Một quần thể được vua Minh Mạng đặt tên, ẩn mình ngay sát biển

Năm 1825, vua Minh Mạng đã đặt tên cho cụm núi này là "Ngũ Hành Sơn", lấy theo năm yếu tố trong triết lý phương Đông: Kim, Mộc, Thủy, Hỏa, Thổ. Đứng từ trung tâm Đà Nẵng nhìn về phía Đông Nam, người ta sẽ thấy năm ngọn núi đá vôi nhô lên giữa bãi cát ven biển như những viên ngọc được thiên nhiên đặt xuống không theo bất cứ quy luật nào mà lại đẹp đến lạ.

Ít ai biết rằng, trước khi trở thành một biểu tượng văn hóa của Đà Nẵng hiện đại, Ngũ Hành Sơn đã đi qua một hành trình lịch sử dài đằng đẵng hơn năm thế kỷ.

Theo các tài liệu sử học, vua Lê Thánh Tông (trị vì 1460-1497) được xem là người đã khám phá ra Ngũ Hành Sơn trong quá trình mở mang bờ cõi về phương Nam. Đến đầu thế kỷ XVII, đại sư Huệ Đạo Minh là người đầu tiên đến tu hành tại núi Thủy Sơn, và chính ông đã cho dựng tấm bia đầu tiên mang tên "Ngũ Uẩn Sơn" vào năm Tân Tỵ (1640) tại nơi nay gọi là động Vân Thông. Một năm sau, năm Canh Thìn (1641), tấm bia thứ hai được dựng tại động Hoa Nghiêm đánh dấu giai đoạn Phật giáo bắt đầu bén rễ sâu vào vùng đất này.

Dưới triều các chúa Nguyễn, Phật giáo ở xứ Đàng Trong bước vào thời kỳ phát triển rực rỡ. Chúa Sãi Nguyễn Phúc Nguyên (trị vì 1613-1635) đã đóng góp xây dựng các chùa Long Hưng, Bửu Châu ở Quảng Nam. Đặc biệt, năm 1695, Quốc chúa Minh Vương Nguyễn Phúc Chu (trị vì 1691-1725) đã mời Hòa thượng Thích Đại Sán (Thạch Liêm) từ Trung Hoa sang Thuận Quảng hộ trì Phật giáo và vị hòa thượng này cũng từng đặt chân đến Ngũ Hành Sơn.

Đến năm 1702, danh tiếng Ngũ Hành Sơn đã vượt ra khỏi biên giới quốc gia. Các thương thuyền châu Âu khi phát hiện vùng này có nhiều khỉ sinh sống đã đặt cho nó cái tên rất Tây - "Montagnes des singes" (Núi của loài khỉ).

Cuộc chiến với nhà Tây Sơn đã khiến nhiều chùa chiền, lăng miếu trong khu vực bị tàn phá nặng nề. Khi vua Gia Long lên ngôi (1802-1819), thống nhất sơn hà, nhà vua đã cho tu bổ lại nhiều chùa ở kinh thành Phú Xuân: Hoàng hậu Hiếu Khương sửa chùa Báo Quốc, Thái trưởng Công chúa Ngọc Nghiên sửa chùa Tuệ Lâm, Thừa Thiên Cao Hoàng Hậu sửa chùa Thiền Lâm...

Một câu chuyện đầy chất văn chương gắn với Ngũ Hành Sơn thời kỳ này: Trong số 13 Hoàng tử và 18 Công chúa của vua Gia Long, có Công chúa Ngọc Lan đã từ bỏ chốn cung cấm xa hoa để vào hang động ở Ngũ Hành Sơn ẩn tu. Nơi đó có tên "Phổ Đà Sơn" được mô tả trong tài liệu là "cơ sở tinh kiết, nơi một người con gái đồng trinh, con của Gia Long và em Minh Mạng, Công chúa Ngọc Lan rời bỏ cảnh phồn hoa, cung điện xa xỉ kiêu sa, Công chúa chọn cuộc đời tu hành, để giải thoát khỏi cảnh đời tục lụy" (theo Ngũ Hành Sơn, tác giả Albert, trang 96).

Tháng 6 năm 1825, vua Minh Mạng đến thăm Ngũ Hành Sơn lần đầu tiên. Chính trong chuyến đi này, nhà vua đã quyết định đặt lại danh xưng cho cả quần thể, cho khắc tên trên thềm và sườn núi (theo Minh Mạng Thực Lục, trang 10). Một tháng sau, tháng 7 năm 1825, nhà vua ban lệnh cho Thượng thư bộ Công - quận công Liên Hoa tiến hành tu sửa chùa Tam Thai.

Những cái tên mà chúng ta vẫn dùng đến tận hôm nay - Ngũ Hành Sơn, Huyền Không, Hóa Nghiêm, Lăng Hư, Tàng Chân, Vân Nguyệt, Thiên Long... đều ra đời từ chính tay vị vua này. Không ai biết chính xác Minh Mạng đã suy nghĩ bao lâu để chọn ra những cái tên đầy chất triết lý phương Đông ấy. Chỉ biết rằng, giữa muôn vàn lo toan quốc kế dân sinh, cảnh trí Ngũ Hành Sơn đã chiếm một vị trí đặc biệt trong tâm hồn nhà vua như một nỗi tự hào về một miền đất xinh đẹp của giang sơn Đại Nam.

Dưới thời Gia Long, người nước ngoài có thể viếng Ngũ Hành Sơn khá dễ dàng. Nhưng từ thời Minh Mạng, Thiệu Trị đến Tự Đức, việc tham quan trở nên rất khó khăn. Khi Pháp đổ quân lên cửa biển Đà Nẵng năm 1859, việc đi lại càng bị siết chặt, khiến lượng người hành hương thưa dần, và Ngũ Hành Sơn rơi vào tình trạng điêu tàn đổ nát suốt một thời gian dài.

Mãi đến ngày 22/3/1990, khu danh thắng này mới chính thức được Bộ Văn hóa (nay là Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch) công nhận là Di tích Lịch sử Văn hóa cấp Quốc gia. Gần ba thập kỷ sau, vào ngày 20/1/2019, Ngũ Hành Sơn tiếp tục được nâng tầm trở thành Di tích Quốc gia đặc biệt - dấu mốc khẳng định trọn vẹn giá trị lịch sử, văn hóa và tâm linh mà nơi này đã âm thầm gìn giữ qua hơn năm thế kỷ. Hiện nay, toàn bộ khu danh thắng do Ban Quản lý Khu Danh thắng Ngũ Hành Sơn trực tiếp quản lý và bảo tồn.

Thủy Sơn - "linh hồn" của cả quần thể

Trong năm ngọn núi, du khách thường tập trung khám phá Thủy Sơn - ngọn núi cao nhất, đẹp nhất và cũng là nơi duy nhất mở cửa đón khách tham quan trọn vẹn. Một blogger du lịch Trung Quốc từng chia sẻ ấn tượng sâu sắc về trải nghiệm tại đây: "Đến Đà Nẵng du lịch, ngoài biển ra, thực ra còn có một nơi có thể chơi nửa ngày - đó chính là Ngũ Hành Sơn. Nằm ngay phía Nam thành phố, gồm năm ngọn núi đá vôi, du khách chủ yếu đến tham quan ngọn 'Thủy Sơn'".

Sở dĩ Thủy Sơn được ưu ái hơn cả vì đây là nơi tập trung dày đặc các di tích: Chùa Linh Ứng, chùa Tam Thai, động Huyền Không và động Âm Phủ. Người ta đến để leo núi, để chiêm bái, để hòa mình vào không gian thiền môn cổ kính và quan trọng hơn cả, để cảm nhận một Đà Nẵng rất khác so với hình dung quen thuộc về một đô thị biển hiện đại.

Vào hang là lạc vào chốn khác - vẻ đẹp ám ảnh của các động đá

Điểm khiến nhiều du khách quốc tế "ngỡ ngàng" khi đến Ngũ Hành Sơn không phải là cảnh quan bên ngoài, mà là cảm giác choáng ngợp khi bước vào lòng núi. Vị blogger Trung Quốc kể trên đã thốt lên: "Nói thật, các hang động ở lưng chừng núi có chút gì đó choáng ngợp - thạch nhũ kết hợp với tượng Phật và hiệu ứng ánh sáng, chụp ảnh ra rất 'ăn hình'".

Đặc biệt nhất phải kể đến động Huyền Không được mệnh danh là "chốn bồng lai" giữa Ngũ Hành Sơn. Cấu trúc lộ thiên với 5 lỗ thông thiên (giếng trời) cho phép ánh sáng tự nhiên chiếu vào, thay đổi theo giờ trong ngày, tạo nên hiệu ứng ánh sáng kỳ ảo như những tia sáng thần thánh. Bước vào động vào khoảng 10-11h sáng, khi ánh nắng xuyên qua giếng trời rọi thẳng vào tượng Phật Thích Ca cao 2,5m ở chính giữa, du khách dễ có cảm giác mình đang đứng trong một thánh đường thiên nhiên đúng nghĩa.

Bức tượng Phật Thích Ca cao 2,5m do nghệ nhân Nguyễn Chất tạc năm 1960, đặt ở vị trí trung tâm, tượng trưng cho sự giác ngộ. Bên trái động là đền thờ bà Chúa Tiên và bà Chúa Thượng Ngàn, kết hợp yếu tố dân gian Việt Nam. Sự giao thoa giữa Phật giáo và tín ngưỡng dân gian này chính là điểm khiến Ngũ Hành Sơn khác biệt với bất kỳ điểm tâm linh nào khác.

Chùa Linh Ứng và chùa Tam Thai - hai ngôi cổ tự gắn với thời các chúa Nguyễn

Trên đỉnh Thủy Sơn, hai ngôi chùa cổ vẫn lặng lẽ tồn tại sau hàng trăm năm thăng trầm. Lịch sử chùa Linh Ứng Ngũ Hành Sơn bắt nguồn từ một hang động tự nhiên trên núi Thủy Sơn. Vào khoảng nửa cuối thế kỷ XVIII, dưới thời chúa Nguyễn Phúc Khoát, một vị hòa thượng tên là Quang Chánh đã phát hiện ra hang động này và lập nên một am thờ nhỏ, đặt tên là "Ứng Chân". Đó là tiền thân của ngôi chùa Linh Ứng đầu tiên trong "tam giác tâm linh" Sơn Trà - Bà Nà - Ngũ Hành Sơn nổi tiếng của Đà Nẵng ngày nay.

Chùa Tam Thai thì còn có lịch sử lâu đời hơn nữa. Theo các tư liệu, chùa Tam Thai là ngôi chùa cổ nhất Đà Nẵng, được xây dựng từ năm 1630 dưới thời chúa Nguyễn, sau được vua Minh Mạng phong làm Quốc Tự. Đứng giữa sân chùa rộng, nhìn lên những mái cong phủ rêu phong, du khách dễ có cảm giác như mình vừa lạc về một thế kỷ khác - nơi thời gian dường như chậm lại để nhường chỗ cho sự tĩnh tại.

Một trong những trải nghiệm "đáng đồng tiền bát gạo" nhất khi lên Thủy Sơn chính là khoảnh khắc đứng trên các đài vọng cảnh nhìn ra xa. Vị blogger Trung Quốc miêu tả: "Mấy đài vọng cảnh trên núi đều có thể nhìn thấy đường chân trời thành phố Đà Nẵng và bãi biển ở phía xa, tầm nhìn rất rộng mở".

Từ đỉnh núi, có thể ngắm toàn cảnh Đà Nẵng, biển Mỹ Khê và bán đảo Sơn Trà - một trải nghiệm "view triệu đô" hiếm có. Vào những ngày trời quang, du khách thậm chí có thể nhìn thấy cả một phần Cù Lao Chàm thấp thoáng phía xa - khung cảnh mà nhiều người sẵn sàng trả tiền cho cáp treo Bà Nà chỉ để có được góc nhìn tương tự.

Kinh nghiệm tham quan: 2,5 - 3 tiếng là vừa đẹp

Vị blogger Trung Quốc đã chia sẻ kinh nghiệm rất thực tế cho người lần đầu đến: "Tham khảo bản đồ, có khoảng 15 điểm tham quan chính, trong đó số 15 là động Âm Phủ nằm dưới chân núi, nên đi trước (vé vào 20.000 đồng). Sau đó đi thang máy lên núi (thang máy 15.000 đồng, vé vào cổng 40.000 đồng), rồi tham quan các điểm còn lại theo lộ trình".

Anh cũng lưu ý: "Cái này chủ yếu tùy vào thể lực và thời gian của mỗi người, có những hang bên trong khá dốc thì chúng tôi không vào. Đặc biệt là động số 5, bên trong có một đoạn rất hẹp và rất dốc, chúng tôi chỉ vào nhìn qua rồi lui ra".

Theo thông tin chính thức, giá vé tham quan Ngũ Hành Sơn (bao gồm động Huyền Không) là 40.000 đồng/người lớn, học sinh sinh viên 10.000 đồng, trẻ dưới 6 tuổi miễn phí. Vé thang máy 30.000 đồng/vé khứ hồi giúp lên đỉnh núi dễ dàng. Giờ mở cửa thường từ 7h00 đến 18h00.

Tổng thời gian tham quan lý tưởng, theo trải nghiệm của vị blogger: "Đi bộ thong thả cả hành trình mất khoảng 2,5 đến 3 tiếng. Cả tuyến không leo dốc nhiều, không quá mệt, mà trong các hang động lại khá mát mẻ. Khi xuống núi có thể đi cầu thang xuống, dọc đường còn ngắm được những bệ thờ Phật nhỏ và các tác phẩm điêu khắc đá".

Đi đến Ngũ Hành Sơn thế nào cho thuận tiện?

Từ trung tâm thành phố Đà Nẵng (cầu Rồng hoặc bờ Đông sông Hàn), khoảng cách 8km, đi theo đường Ngô Quyền - cầu Trần Thị Lý - đường Ngũ Hành Sơn - Lê Văn Hiến. Có thể thuê xe máy (100.000 - 150.000 đồng/ngày), đi taxi hoặc xe công nghệ (150.000 - 200.000 đồng). Từ Hội An, khoảng cách 25km, đi theo đường ven biển Mỹ Khê, mất khoảng 45 phút. Đây cũng là lý do nhiều tour du lịch kết hợp Hội An - Đà Nẵng thường chọn Ngũ Hành Sơn làm điểm dừng chân đầu tiên trong ngày.

Một vài lưu ý nhỏ trước khi đi

Để chuyến đi trọn vẹn, du khách nên chuẩn bị giày thể thao hoặc dép có độ bám tốt vì nhiều đoạn đường đá khá dốc và dễ trơn trượt khi mưa. Trang phục cần kín đáo, lịch sự khi vào chùa - quần áo qua đầu gối, áo có tay là phù hợp nhất.

Thời điểm lý tưởng để tham quan là buổi sáng sớm (6h00 - 9h00) hoặc chiều muộn (15h00 - 17h00) để tránh nắng gắt và đám đông. Buổi sáng sớm còn có thêm lợi thế: Ánh sáng xuyên qua giếng trời ở các động sẽ đẹp nhất, cho ra những bức ảnh có chất "phim điện ảnh" đúng nghĩa.

Sau khi tham quan, du khách có thể ghé làng đá mỹ nghệ Non Nước ngay dưới chân núi - làng nghề có lịch sử hơn 300 năm với những tác phẩm điêu khắc tinh xảo từ đá cẩm thạch. Một bức tượng nhỏ, một chiếc vòng tay đá hay một con linh vật phong thủy đều có thể trở thành món quà mang đậm dấu ấn miền Trung.

Đà Nẵng có biển, có cầu, có Bà Nà mây phủ - những điểm đến đã quá quen với hầu hết du khách Việt. Nhưng có lẽ chính vì quá quen, mà nhiều người lại bỏ quên Ngũ Hành Sơn - nơi mà một du khách nước ngoài chỉ cần đến một lần đã phải dùng đến từ "choáng ngợp" để miêu tả. Lần tới đặt chân đến thành phố biển này, hãy thử dành nửa ngày leo lên Thủy Sơn, vào động Huyền Không lúc nắng đứng bóng, và đứng lặng trên đài vọng cảnh nhìn ra Mỹ Khê. Có thể bạn sẽ hiểu vì sao, hơn 200 năm trước, một vị vua đã chọn cái tên thiêng liêng nhất - Ngũ Hành để đặt cho mảnh đất này.

Link nội dung: https://doanhnhanngaynay.com/khach-trung-quoc-ngo-ngang-khi-den-da-nang-hoa-ra-o-day-khong-chi-co-bien-con-ca-mot-ngon-nui-dep-nhu-chon-bong-lai-a282684.html