ĐỊA ỐC

Bộ trưởng Xây dựng Trần Hồng Minh chia sẻ dấu ấn lớn nhất nhiệm kỳ

Admin

Dấu ấn đậm nét nhất trong nhiệm kỳ qua chính là "cuộc cách mạng" trong phát triển đường bộ cao tốc. Nếu như năm 2020, cả nước chỉ có hơn 1.160 km cao tốc thì đến hết năm 2025, con số này đã vọt lên 3.345 km, gấp gần 3 lần. Trục xương sống cao tốc Bắc - Nam phía Đông từ Cao Bằng đến Cà Mau cơ bản thông suốt, hiện thực hóa giấc mơ kết nối liền hai đầu đất nước.

Nhân dịp Tết Nguyên đán Bính Ngọ 2026 , Bộ trưởng Bộ Xây dựng Trần Hồng Minh đã dành cho Báo Tiền Phong cuộc trao đổi về khát vọng đưa hạ tầng dân tộc vươn mình trong kỷ nguyên mới.

- Việc hoàn thành vượt mục tiêu 3.000 km cao tốc chỉ trong một nhiệm kỳ được xem là kỳ tích của Việt Nam. Theo Bộ trưởng, điều gì đã tạo nên cú bứt phá này?

- Bộ trưởng Trần Hồng Minh : Như chúng ta đã thấy, giai đoạn 2021-2025, Đảng, Quốc hội, Chính phủ đã dành nguồn lực rất lớn cho kết cấu hạ tầng giao thông, đồng thời đặt mục tiêu đến hết năm 2025 cả nước có 3.000km đường bộ cao tốc.

Bộ trưởng Bộ Xây dựng Trần Hồng Minh. Ảnh: Như Ý.

Nhìn lại chặng đường đã qua, riêng trong lĩnh vực đường bộ cao tốc, tính đến năm 2020, cả nước có 1.163km. Như vậy, để hoàn thành mục tiêu 3.000km vào năm 2025, có 1.837km cần phải hoàn thiện - một thách thức rất lớn, trong khi điểm nghẽn về thể chế, giải phóng mặt bằng hay vật liệu vẫn là rào cản.

Để tháo gỡ những vướng mắc, Quốc hội, Chính phủ đã ban hành nhiều cơ chế đặc thù từ lập dự toán, dự án, giải phóng mặt bằng, đến triển khai thi công. Thủ tướng Chính phủ cũng đã thành lập Ban Chỉ đạo Nhà nước các công trình, dự án trọng điểm và thành lập 7 Đoàn công tác do các Phó Thủ tướng Chính phủ làm trưởng đoàn, các thành viên gồm Bộ Xây dựng và các bộ, ngành liên quan trực tiếp kiểm tra hiện trường. Lãnh đạo Chính phủ đồng thời phát động phong trào “500 ngày đêm thi đua hoàn thành 3.000km đường bộ cao tốc”, ngoài ra các địa phương cũng đã thành lập Ban Chỉ đạo để tập trung chỉ đạo tháo gỡ các vướng mắc, đặc biệt là trong công tác giải phóng mặt bằng, nguồn vật liệu xây dựng.

Trục xương sống cao tốc Bắc - Nam phía Đông từ Cao Bằng đến Cà Mau đã cơ bản thông suốt, hiện thực hóa giấc mơ kết nối liền mạch hai đầu đất nước. Ảnh: Lộc Liên.

Nhờ sự quan tâm, quyết liệt chỉ đạo đó, hầu hết vướng mắc dần được tháo gỡ, tạo tiền đề quan trọng để các chủ đầu tư, nhà thầu quyết tâm, nỗ lực triển khai thi công. Sau 5 năm của nhiệm kỳ (2021-2025), cả nước đã hoàn thành, thông xe thêm 2.182km đường cao tốc. Đến hết năm 2025, cả nước đã hoàn thành 3.345km tuyến chính cao tốc, 458km nút giao và đường dẫn, vượt mục tiêu đạt 3.000km cao tốc trong kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội 5 năm 2021-2025 của Quốc hội, Chính phủ giao. Ngoài ra, cả nước cũng hoàn thành 1.586km đường quốc lộ; 1.701km đường bộ ven biển. Tính cả giai đoạn 2021-2025, cả nước đã hoàn thành, thông xe 2.025km đường cao tốc, gấp gần 2 lần số km có được trong 20 năm trước nhiệm kỳ.

Kết quả này cho thấy, khi "ý Đảng gặp lòng dân", khi cả hệ thống chính trị vào cuộc với tinh thần “3 ca 4 kíp”, “vượt nắng thắng mưa”, chúng ta có thể chinh phục được những mục tiêu tưởng chừng như không thể.

- Năm 2025 cũng là năm đầu tiên Bộ Xây dựng vận hành theo mô hình tổ chức mới. Áp lực từ việc tinh giản bộ máy đã được chuyển hóa thành hiệu quả công việc như thế nào, thưa Bộ trưởng?

- Có thể nói, năm 2025 thực sự là một “cuộc cách mạng” về sắp xếp tổ chức. Chúng tôi đã thực hiện tinh gọn từ 42 đầu mối của Bộ Xây dựng cũ và Bộ Giao thông vận tải xuống còn 22 đầu mối. Áp lực là rất lớn khi phạm vi quản lý trải rộng trên nhiều lĩnh vực, từ giao thông, xây dựng đến đô thị và nhà ở, nhưng khối lượng văn bản quy phạm pháp luật hoàn thành lại tăng đột biến với 134 văn bản trong năm qua.

Quan trọng hơn cả sự tinh gọn về số lượng là sự thay đổi về tư duy: Chuyển mạnh mẽ từ “quản lý” sang “kiến tạo phát triển”. Chúng tôi đã cắt giảm hơn 30% thủ tục hành chính và 35% điều kiện đầu tư kinh doanh. Việc thông qua “bộ tứ” luật quan trọng gồm Luật Đường sắt, Luật Xây dựng, Luật Hàng không dân dụng và Luật Quy hoạch đô thị và nông thôn sửa đổi đã tạo ra một hành lang pháp lý thông thoáng, minh bạch chưa từng có.

Bên cạnh đó, việc phân cấp mạnh mẽ cho địa phương gắn với mô hình chính quyền hai cấp đã giúp tháo gỡ các "điểm nghẽn" ngay từ cơ sở, trao quyền chủ động và sáng tạo cho các địa phương trong việc khai thác tiềm năng vùng.

- Trong bức tranh hạ tầng quốc gia, dự án đường sắt tốc độ cao Bắc - Nam đang thu hút sự quan tâm đặc biệt. Thưa Bộ trưởng, với một dự án có độ phức tạp về công nghệ và quản trị bậc nhất hiện nay, tiêu chí nào được đặt lên hàng đầu khi lựa chọn nhà đầu tư và Việt Nam sẽ làm gì để từng bước làm chủ công nghệ này?

- Dự án Đường sắt tốc độ cao Bắc - Nam là dự án hạ tầng đặc biệt quan trọng, lần đầu tiên triển khai tại Việt Nam. Sau khi các Nghị quyết đặc thù được thông qua, năm 2026 sẽ là thời điểm chúng ta tập trung toàn lực để khởi công dự án này.

Mô phỏng dự án đường sắt tốc độ cao Bắc - Nam. Ảnh: AI.

Khác với các dự án trước đây, Việt Nam xác định đầu tư công là chủ đạo nhưng mở ra không gian lớn cho doanh nghiệp nội địa tham gia. Mục tiêu không chỉ là xây đường ray, mà là làm chủ công nghệ. Doanh nghiệp Việt được khuyến khích liên danh với các tập đoàn quốc tế để từng bước tự chủ từ khâu thi công đến sản xuất linh kiện và vận hành nhằm giảm phụ thuộc vào nhà thầu ngoại.

Bên cạnh đó, chúng ta sẽ áp dụng mô hình phát triển đô thị gắn với giao thông công cộng (TOD). Các nhà ga đường sắt tốc độ cao sẽ không chỉ là nơi đón khách, mà sẽ trở thành những trung tâm tài chính, thương mại, dịch vụ sầm uất, tạo nguồn thu bền vững để tái đầu tư theo triết lý “lấy hạ tầng nuôi hạ tầng”.

Về kỹ thuật, Bộ Xây dựng đang rà soát và ban hành đồng bộ hệ thống quy chuẩn - tiêu chuẩn quốc gia cho cầu, hầm, nhà ga, đường ray, điện - tín hiệu, phòng cháy chữa cháy, an toàn vận hành… áp dụng theo thông lệ quốc tế. Song song với đó, Bộ Xây dựng cũng đang tích cực phối với các bộ, ngành liên quan xúc tiến Trung tâm Đào tạo đường sắt tốc độ cao quốc gia, hợp tác với Nhật Bản, Hàn Quốc, Đức để đào tạo kỹ sư, công nhân và chuyên gia. Mục tiêu 10 năm tới, Việt Nam tự bảo trì, tự sản xuất linh kiện cơ bản, làm chủ công nghệ cốt lõi thay vì phụ thuộc nhập khẩu.

- Song song với những dải ray trên mặt đất là cuộc bứt phá trên bầu trời, việc Cảng hàng không quốc tế (HKQT) Long Thành giai đoạn 1 dự kiến khai thác năm 2026 đang được kỳ vọng sẽ thay đổi vị thế hàng không khu vực. Bộ trưởng nhìn nhận thế nào về sự tác động của dự án này và việc điều chỉnh vai trò của Tân Sơn Nhất khi Long Thành đi vào hoạt động?

- Việc đón những chuyến bay thương mại đầu tiên tại dự án Cảng HKQT Long Thành vào ngày 19/12/2025 là tiền đề để hình thành “thành phố sân bay” đầu tiên của Việt Nam, tạo không gian phát triển mới cho cả vùng Đông Nam Bộ.

Cảng HKQT Long Thành là hạt nhân của mô hình thành phố sân bay (Aerotropolis) đầu tiên tại Việt Nam. Với vai trò là trung tâm trung chuyển quốc tế, Cảng HKQT Long Thành tạo ra không gian phát triển mới cho cả vùng Đông Nam Bộ, tập trung vào logistics cao cấp và dịch vụ hàng không tầm cỡ thế giới.

Những chuyến bay thương mại đầu tiên hạ cánh tại Cảng HKQT Long Thành vào sáng 19/12/2025. Ảnh: Duy Anh, TCHK, BA.

Khi Cảng HKQT Long Thành đi vào vận hành, một sự điều chỉnh chiến lược sẽ diễn ra: Tân Sơn Nhất sẽ chuyển mình thành cảng hàng không cửa ngõ vùng, tập trung vào các đường bay nội địa và quốc tế chặng ngắn (ASEAN, Đông Bắc Á). Sự kết hợp này tạo nên một tổ hợp hàng không linh hoạt, tối ưu hóa năng lực vận tải cho khu vực kinh tế trọng điểm phía Nam.

Ở miền Bắc, Dự án HKQT Gia Bình được quy hoạch cùng với Nội Bài sẽ hình thành mô hình “trung tâm kép - dual hub”, giúp tăng cường năng lực khai thác tổng thể cho vùng Thủ đô. Tổng công suất toàn hệ thống hiện đã đạt 155 triệu hành khách/năm, và chúng ta đặt mục tiêu nâng lên 275 triệu hành khách vào năm 2030. Để tránh đầu tư dàn trải, Luật Hàng không dân dụng mới đã quy định rõ các tiêu chí lập quy hoạch dựa trên năng lực khai thác vùng trời và nhu cầu thực tế của địa phương.

- Bước sang năm mới, Bộ trưởng gửi gắm thông điệp gì về khát vọng tăng trưởng và vị thế của Việt Nam thông qua hệ thống hạ tầng mới này?

- Với đà tăng trưởng của các lĩnh vực ngành xây dựng đạt trên 9% năm 2025, diện mạo hạ tầng mới là nền tảng vững chắc để chúng ta phấn đấu đạt mục tiêu tăng trưởng GDP cả nước ở mức hai con số trong những năm tiếp theo.

Bước sang nhiệm kỳ mới, nhìn vào những dải cao tốc liền mạch từ Cao Bằng đến Cà Mau, những chuyến bay đầu tiên đến Cảng hàng không quốc tế Long Thành,… tôi tin rằng Việt Nam đã sẵn sàng cho hành trình trở thành nước công nghiệp hiện đại vào năm 2030 và nước phát triển vào năm 2045.

- Xin cảm ơn Bộ trưởng!