Ông Lê Văn Tuấn, Giám đốc Công ty TNHH Kế toán Thuế Keytas
Nghị định 144/2026/NĐ-CP sửa đổi, bổ sung Nghị định 181/2025/NĐ-CP về thuế giá trị gia tăng (GTGT) đã bổ sung quy định liên quan đến việc khấu trừ thuế GTGT đầu vào đối với hàng hóa, dịch vụ mua trả chậm, trả góp có giá trị từ 5 triệu đồng trở lên.
Theo quy định tại điểm g khoản 2 Điều 26 được sửa đổi, cơ sở kinh doanh được căn cứ vào hợp đồng mua bán bằng văn bản, hóa đơn GTGT và chứng từ thanh toán không dùng tiền mặt để khấu trừ thuế GTGT đầu vào. Trường hợp chưa đến thời điểm thanh toán theo hợp đồng hoặc phụ lục hợp đồng thì dù chưa có chứng từ thanh toán không dùng tiền mặt, doanh nghiệp vẫn được khấu trừ thuế GTGT đầu vào.
Tuy nhiên, khi đến thời điểm thanh toán theo hợp đồng hoặc phụ lục hợp đồng mà cơ sở kinh doanh chưa có chứng từ thanh toán không dùng tiền mặt, doanh nghiệp phải kê khai điều chỉnh giảm số thuế GTGT đầu vào đã được khấu trừ đối với phần giá trị hàng hóa, dịch vụ chưa đáp ứng điều kiện thanh toán. Việc điều chỉnh được thực hiện tại kỳ tính thuế phát sinh nghĩa vụ thanh toán.
Sau khi đã điều chỉnh giảm, nếu cơ sở kinh doanh bổ sung được chứng từ thanh toán không dùng tiền mặt theo đúng quy định thì được kê khai, khấu trừ lại số thuế GTGT đầu vào tương ứng tại kỳ tính thuế có chứng từ thanh toán.
Theo phân tích của ông Lê Văn Tuấn, Giám đốc Công ty TNHH Kế toán Thuế Keytas, quy định mới đồng nghĩa doanh nghiệp sẽ phải tổ chức lại bộ phận kế toán để theo dõi hợp đồng, phụ lục hợp đồng, thời hạn thanh toán cũng như việc kê khai và điều chỉnh tờ khai thuế liên tục. Điều này có thể làm gia tăng thủ tục vận hành, chi phí tuân thủ và chi phí quản trị của doanh nghiệp.
Luật sư cũng cho rằng việc điều chỉnh tờ khai thuế GTGT liên tục theo từng thời điểm đến hạn thanh toán và sau hạn thanh toán sẽ gây khó khăn cho cả doanh nghiệp lẫn cơ quan thuế trong quá trình theo dõi nghĩa vụ thuế. Đặc biệt, với các doanh nghiệp quy mô lớn, việc rà soát điều khoản thanh toán trong hợp đồng và phụ lục hợp đồng sẽ tốn nhiều thời gian và nguồn lực.
Trong khi đó, theo hướng dẫn trước đây tại Công văn 1634/TCT-CS ngày 25/4/2017 của Tổng cục Thuế, kể từ khi Nghị định 91/2014/NĐ-CP có hiệu lực từ ngày 15/11/2014, trường hợp chưa đến hạn thanh toán theo hợp đồng thì doanh nghiệp vẫn được kê khai, khấu trừ thuế GTGT đầu vào dù chưa có chứng từ thanh toán qua ngân hàng.
Đáng chú ý, khi đã đến hạn thanh toán nhưng doanh nghiệp vẫn chưa thanh toán nên chưa có chứng từ thanh toán qua ngân hàng, doanh nghiệp cũng chưa phải điều chỉnh giảm số thuế GTGT đã kê khai khấu trừ. Chỉ đến thời điểm thanh toán thực tế, nếu thanh toán bằng tiền mặt hoặc bằng hình thức không được xác định là thanh toán qua ngân hàng thì doanh nghiệp mới phải kê khai điều chỉnh giảm số thuế GTGT tương ứng.
Theo luật sư hợp đồng và thời hạn thanh toán không nên trở thành điều kiện để xem xét quyền khấu trừ thuế của doanh nghiệp.
Theo luật sư, cách xử lý theo Nghị định 91 trước đây đơn giản hơn và phù hợp với điều kiện khấu trừ thuế GTGT hiện hành, đồng thời giúp giảm chi phí vận hành, chi phí tuân thủ cũng như giảm áp lực giám sát cho cơ quan thuế.
Từ đó, luật sư khuyến nghị nên đơn giản hóa quy trình kê khai thuế GTGT theo hướng: doanh nghiệp có hóa đơn hợp lệ thì được khấu trừ thuế GTGT đầu vào ngay tại thời điểm có hóa đơn. Với hóa đơn từ 5 triệu đồng trở lên, nếu thanh toán bằng tiền mặt thì thực hiện điều chỉnh giảm thuế GTGT được khấu trừ tại thời điểm phát sinh thanh toán tiền mặt.
Trường hợp thanh toán bằng chuyển khoản hoặc các hình thức thanh toán không dùng tiền mặt thì doanh nghiệp không cần thực hiện thêm thủ tục điều chỉnh nào do đã kê khai khấu trừ trước đó.
“Hay nói đơn giản hơn, doanh nghiệp có hóa đơn là được khấu trừ thuế GTGT đầu vào tại thời điểm có hóa đơn, và chỉ phải điều chỉnh giảm thuế GTGT đầu vào khi thanh toán bằng tiền mặt”, luật sư nêu quan điểm.
Theo ông Tuấn, việc bổ sung quy định phải điều chỉnh giảm thuế GTGT tại thời điểm đến hạn thanh toán nếu chưa có chứng từ thanh toán không dùng tiền mặt, sau đó lại kê khai khấu trừ trở lại khi có chứng từ thanh toán có thể gây khó khăn cho doanh nghiệp.
Luật sư cho biết trên thực tế, doanh nghiệp mua và bán có thể phải ký thêm phụ lục hợp đồng để gia hạn thời điểm thanh toán nhằm tránh phát sinh thủ tục điều chỉnh thuế. Điều này làm tăng thêm thủ tục hành chính dân sự, trong khi bên bán đã kê khai và nộp thuế tại thời điểm xuất hóa đơn.
Theo quan điểm của luật sư, hợp đồng và thời hạn thanh toán trong trường hợp này chỉ nên được xem xét dưới góc độ quyền và nghĩa vụ dân sự giữa các bên, không nên trở thành điều kiện để xem xét quyền khấu trừ thuế của doanh nghiệp.
“Bản chất cuối cùng vẫn là doanh nghiệp có đáp ứng điều kiện về chứng từ thanh toán để được khấu trừ thuế theo quy định hiện hành hay không”, ông Tuấn nhấn mạnh.