ĐẦU TƯ

TỔNG THUẬT: Hội nghị "DOANH NGHIỆP GÓP PHẦN VÀO TĂNG TRƯỞNG 2 CON SỐ và THỦ TƯỚNG CHÍNH PHỦ TRI ÂN DOANH NGHIỆP"

Admin

Sáng 27/3, Hội nghị "Doanh nghiệp góp phần vào tăng trưởng hai con số và Thủ tướng Chính phủ tri ân doanh nghiệp" được tổ chức tại trụ sở Chính phủ. Thủ tướng Phạm Minh Chính chủ trì Hội nghị.

Thủ tướng Phạm Minh Chính dự Hội nghị "Doanh nghiệp góp phần vào tăng trưởng hai con số và Thủ tướng phủ tri ân doanh nghiệp - Ảnh VGP/Đức Tuân

Chính phủ lắng nghe ý kiến của doanh nghiệp với sự chân thành, chia sẻ với doanh nghiệp bằng trái tim, hành động bằng sản phẩm cụ thể

Cùng dự có Phó Thủ tướng Hồ Đức Phớc, Phó Thủ tướng Nguyễn Chí Dũng; lãnh đạo một số bộ, ngành và đại diện cộng đồng doanh nghiệp.

Phát biểu ý kiến khai mạc hội nghị, Thủ tướng Phạm Minh Chính nhấn mạnh, đất nước trải qua giai đoạn 2021-2025 trong bối cảnh thế giới và khu vực biến động phức tạp, khó lường, chưa từng có tiền lệ. Trong đó doanh nghiệp phải đối mặt với nhiều khó khăn như đứt gãy các chuỗi cung ứng, thiếu hụt thị trường, các vấn đề thuế quan, đối mặt với thiên tai, bão lũ…

Song dưới sự lãnh đạo sáng suốt của Đảng, sự đồng hành của Quốc hội, sự chỉ đạo quyết liệt của Chính phủ, sự vào cuộc của cả hệ thống chính trị, sự nỗ lực vượt bậc của cộng đồng doanh nghiệp và nhân dân, nền kinh tế đã vượt qua khó khăn và đạt nhiều kết quả quan trọng, toàn diện trên mọi lĩnh vực; cơ bản là quý sau tốt hơn quý trước, năm sau tốt hơn năm trước, góp phần thay đổi diện mạo đất nước, tăng cường tiềm lực và vị thế đất nước trên trường quốc tế, tạo nền tảng phát triển cho nhiệm kỳ này.

Đặc biệt, trong 2 năm cuối nhiệm kỳ, Bộ Chính trị đã ban hành 9 Nghị quyết chiến lược, sau đó Chính phủ đã trình Quốc hội các nghị quyết để thể chế hóa và triển khai thực hiện sớm, nhằm tạo nền tảng vững chắc tăng trưởng hai con số giai đoạn 2026-2030.

Nêu rõ mục tiêu tăng trưởng 2 con số cần sự nỗ lực, tham gia của cộng đồng doanh nghiệp, Thủ tướng khẳng định Chính phủ lắng nghe ý kiến của doanh nghiệp với sự chân thành, chia sẻ với doanh nghiệp bằng trái tim, hành động bằng sản phẩm cụ thể, tháo gỡ khó khăn, vướng mắc cho doanh nghiệp để góp phần hoàn thành 2 mục tiêu chiến lược 100 năm.

Thủ tướng cho rằng, nông nghiệp và đầu tư nước ngoài đã đưa đất nước thoát khỏi khó khăn. Công nghiệp đưa Việt Nam trở thành nước thu nhập trung bình cao. Trong giai đoạn mới, chúng ta xác định khoa học công nghệ, đổi mới sáng tạo, chuyển đổi số là nền tảng cho sự phát triển, đưa Việt Nam trở thành nước phát triển có thu nhập cao.

Vai trò của doanh nghiệp ngày càng được đề cao, càng được tôn vinh; nhận thức thay đổi thì tư duy, phương pháp luận và cách tiếp cận, hành động cũng phải thay đổi, với tinh thần "nguồn lực bắt nguồn từ tư duy và tầm nhìn, động lực bắt nguồn từ sự đổi mới và sáng tạo, sức mạnh bắt nguồn từ nhân dân và doanh nghiệp".

Thủ tướng Phạm Minh Chính: Chúng ta phải vươn xa ra biển lớn, khai thác 7 tầng năng lượng của biển; bay cao lên vũ trụ; tiến sâu vào lòng đất để khai thác không gian ngầm - Ảnh VGP/Nhật Bắc

Doanh nghiệp phải đóng góp vào đổi mới, xây dựng thể chế

Thủ tướng nêu rõ, bước vào giai đoạn 2026-2030, Đại hội lần thứ XIV của Đảng tiếp tục khẳng định mục tiêu tăng trưởng trung bình 10% trở lên. Đây là mệnh lệnh của non sông, đưa đất nước vững bước tiến vào kỷ nguyên mới mới - kỷ nguyên giàu mạnh, phồn vinh, văn minh, thịnh vượng.

Tuy nhiên, bối cảnh trong nước và quốc tế còn nhiều thách thức như bảo hộ thương mại gia tăng, xung đột địa chính trị, biến đổi khí hậu, già hóa dân số, cạn kiệt tài nguyên, chuyển đổi năng lượng…. đang là những thách thức lớn.

Do đó, chúng ta phải làm mới các động lực tăng trưởng truyền thống và thúc đẩy các động lực tăng trưởng mới, phát triển dựa vào khoa học công nghệ, đổi mới sáng tạo, chuyển đổi số, chuyển đổi xanh, kinh tế tuần hoàn, kinh tế sáng tạo, kinh tế tầm thấp…

Chúng ta phải vươn xa ra biển lớn, khai thác 7 tầng năng lượng của biển; bay cao lên vũ trụ; tiến sâu vào lòng đất để khai thác không gian ngầm.

Thủ tướng nêu rõ, tất cả điều này đòi hỏi trí tuệ, nỗ lực; với tư duy, phương pháp luận và cách làm phải thay đổi. Trong tiến trình này, Đảng, Nhà nước sẽ tiếp tục hoàn thiện cơ chế, thể chế, chính sách, song người làm vẫn là doanh nghiệp; dù đường lối, thể chế tốt nhưng nếu doanh nghiệp không nỗ lực thì không thể thành công, không đạt hiệu quả như mong muốn. Doanh nghiệp phải là trung tâm, chủ thể trong sự phát triển.

Do đó, doanh nghiệp phải đóng góp vào đổi mới, xây dựng thể chế, nhận thức rõ vài trò trong phát triển đất nước nhanh và bền vững.

Thủ tướng nêu rõ, hình thành các doanh nghiệp mang tầm cỡ khu vực và toàn cầu; đưa các hộ kinh doanh trở thành doanh nghiệp; doanh nghiệp vừa và nhỏ trở thành doanh nghiệp lớn, doanh nghiệp lớn trở thành doanh nghiệp toàn cầu, xuyên quốc gia - Ảnh VGP/Nhật Bắc

Hình thành các doanh nghiệp mang tầm cỡ khu vực và toàn cầu; đưa các hộ kinh doanh trở thành doanh nghiệp

Tại hội nghị này, Thủ tướng đề nghị các đại biểu tập trung thảo luận làm thế nào để chuyển mạnh sang mô hình tăng trưởng dựa vào khoa học công nghệ, đổi mới sáng tạo, chuyển đổi số vì đây là yêu cầu khách quan, lựa chọn chiến lược.

Cùng với đó, hình thành các doanh nghiệp mang tầm cỡ khu vực và toàn cầu; đưa các hộ kinh doanh trở thành doanh nghiệp; doanh nghiệp vừa và nhỏ trở thành doanh nghiệp lớn, doanh nghiệp lớn trở thành doanh nghiệp toàn cầu, xuyên quốc gia.

Đồng thời, tận dụng kinh tế số, kinh tế xanh, các FTA để nâng cao vị thế trong chuỗi giá trị toàn cầu; đóng góp nhiều hơn, tham gia sâu hơn vào nền kinh tế thế giới; nâng cao chất lượng sản xuất hàng hóa, tự lực, tự cường, tự chủ chiến lược. Nâng cao năng suất lao động, chất lượng nguồn nhân lực, đáp ứng yêu cầu lao động quốc tế.

Thủ tướng đặt vấn đề, Nhà nước cần tháo gỡ điểm nào về thể chế, chính sách, nguồn lực để tạo đột phá cho doanh nghiệp - Ảnh VGP/Nhật Bắc

Thủ tướng cũng đặt vấn đề, Nhà nước cần tháo gỡ điểm nào về thể chế, chính sách, nguồn lực để tạo đột phá cho doanh nghiệp?

Thủ tướng cho rằng, đây đều là những vấn đề lớn đòi hỏi tất cả các chủ thể phải chung tay, đề cao trí tuệ tiết kiệm thời gian, quyết đoán đúng lúc để đạt hiệu quả cao nhất. Để đất nước vượt qua những cơn gió ngược, tăng trưởng hai con số thì tất cả các cấp, các ngành, địa phương đều phải tăng trưởng hai con số.

Đồng thời, đề cao tinh thần đại đoàn kết toàn dân tộc, đoàn kết quốc tế, đoàn kết trong nước để ứng phó những vấn đề thời đại, vấn đề bên ngoài.

Chúng ta kiên trì thực hiện đường lối đa dạng hoá, đa phương hóa trong quan hệ quốc tế; là bạn bè tốt, đối tác tốt, thành viên có trách nhiệm trong cộng đồng quốc tế; tranh thủ nguồn lực bên ngoài là nguồn vốn, quản trị, khoa học công nghệ.

Doanh nghiệp đóng góp khoảng 60% GDP, thu hút hơn 16 triệu lao động

Trình bày báo cáo tại Hội nghị, Thứ trưởng Bộ Tài chính Cao Anh Tuấn cho biết, yêu cầu phát triển trong giai đoạn tới đặt ra phải thay đổi căn bản trong tư duy điều hành: từ "ổn định để phát triển" sang "ổn định để bứt phá"; từ "cải thiện môi trường kinh doanh" sang "kiến tạo lợi thế cạnh tranh quốc gia"; và đặc biệt là từ "hỗ trợ doanh nghiệp" sang "trao quyền và đồng hành để doanh nghiệp trở thành lực lượng kiến tạo tăng trưởng".

Về tình hình doanh nghiệp, theo ông Cao Anh Tuấn, khu vực doanh nghiệp hiện đóng góp khoảng 60% GDP, thu hút hơn 16 triệu lao động, đóng góp chủ yếu vào tổng kim ngạch xuất nhập khẩu.

Khu vực doanh nghiệp nhà nước tiếp tục giữ vai trò đầu tàu trong nhiều ngành, lĩnh vực trọng yếu, bảo đảm an ninh năng lượng, an ninh lương thực, ổn định kinh tế vĩ mô.

Khu vực kinh tế tư nhân đã có bước tiến mạnh mẽ

Khu vực kinh tế tư nhân, một động lực quan trọng nhất của nền kinh tế, đã có bước tiến mạnh mẽ, lan tỏa tinh thần khởi nghiệp, từng bước hình thành các tập đoàn mang thương hiệu tầm cỡ khu vực và quốc tế.

Khu vực doanh nghiệp FDI tiếp tục là bộ phận cấu thành quan trọng của nền kinh tế khi Việt Nam đã thuộc nhóm 15 quốc gia thu hút FDI lớn nhất thế giới.

Ba khu vực doanh nghiệp này đang từng bước gắn kết, hợp thành sức mạnh chung, tạo động lực để đất nước phát triển nhanh, bền vững và vươn lên hùng cường.

Tính đến hết năm 2025, cả nước có khoảng hơn 1 triệu doanh nghiệp đang hoạt động, tăng hơn 25% so với năm 2020.

Đặc biệt, sau khi Bộ Chính trị ban hành Nghị quyết số 68-NQ/TW về phát triển kinh tế tư nhân, khí thế khởi sự kinh doanh lan tỏa mạnh mẽ.

Từ tháng 5/2025, bình quân mỗi tháng có khoảng 18.000 doanh nghiệp thành lập mới, tăng 38% so với bình quân 4 tháng đầu năm. Năm 2025, cả nước có gần 298 nghìn doanh nghiệp thành lập mới và quay trở lại hoạt động.

Về huy động nguồn lực từ khu vực doanh nghiệp cho phát triển kinh tế, xã hội, tổng vốn đầu tư toàn xã hội giai đoạn 2021-2025 đạt khoảng 33% GDP. Đến hết năm 2025, quy mô thị trường cổ phiếu đạt khoảng 86,7% GDP, thị trường trái phiếu đạt khoảng 30% GDP. Qua ba đợt khởi công, khánh thành đồng loạt trong năm 2025, cả nước đã khởi công, khánh thành 564 công trình, dự án với tổng mức đầu tư khoảng 5,2 triệu tỷ đồng, trong đó nguồn vốn tư nhân chiếm gần 75%.

Bên cạnh những kết quả rất quan trọng nêu trên, nền kinh tế và khu vực doanh nghiệp vẫn còn nhiều hạn chế, bất cập, khó khăn, thách thức.

Thể chế, pháp luật còn một số vướng mắc, bất cập, chưa được sửa đổi, bổ sung kịp thời; việc phân cấp, phân quyền, cắt giảm thủ tục hành chính, tiêu chuẩn, quy chuẩn kỹ thuật, điều kiện kinh doanh trong một số lĩnh vực còn chưa cải cách triệt để; các vấn đề pháp lý tồn đọng của một số doanh nghiệp, dự án đầu tư chưa được giải quyết dứt điểm.

Mục tiêu tăng trưởng kinh tế "hai con số" gắn với đổi mới mô hình tăng trưởng là yêu cầu không thể chậm trễ

Bước sang giai đoạn 2026-2030, bối cảnh quốc tế và trong nước đặt ra cả thời cơ lớn lẫn thách thức rất gay gắt, đặt ra sức ép và cũng là động lực cải cách và chuyển đổi mô hình tăng trưởng kinh tế.

Mục tiêu tăng trưởng kinh tế "hai con số" gắn với đổi mới mô hình tăng trưởng là yêu cầu không thể chậm trễ, là điều kiện tiên quyết để ngăn chặn nguy cơ tụt hậu, tạo nền tảng vững chắc để đến năm 2045 nước ta trở thành nước phát triển, thu nhập cao.

Nếu tiếp tục dựa vào các động lực truyền thống và cách làm cũ, chúng ta sẽ không thể đạt được mục tiêu này.

Cần đổi mới mạnh mẽ mô hình tăng trưởng theo hướng lấy phát triển đột phá về khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số làm động lực chủ yếu; dựa trên nền tảng Nhà nước kiến tạo phát triển, thể chế hiện đại, đồng bộ và việc phát huy cao nhất tri thức, khoa học công nghệ và năng lực đổi mới sáng tạo quốc gia.

Đây thực chất là một cuộc cải cách toàn diện, trong đó doanh nghiệp phải được đặt ở vị trí trung tâm của hệ thống chính sách và là chủ thể kiến tạo tăng trưởng.

Doanh nghiệp tư nhân phải thực sự trở thành một động lực quan trọng nhất của nền kinh tế

Doanh nghiệp tư nhân phải thực sự trở thành một động lực quan trọng nhất của nền kinh tế.

Doanh nghiệp nhà nước cần phát huy vai trò chủ đạo, tập trung vào những ngành, lĩnh vực then chốt, địa bàn trọng yếu, có tính chiến lược và sức lan tỏa cao; dẫn dắt cho khu vực tư nhân, dẫn dắt đổi mới sáng tạo và công nghệ lõi.

Các doanh nghiệp FDI đóng vai trò là nguồn lực bổ sung quan trọng, gắn kết chặt chẽ hơn với doanh nghiệp trong nước.

Ba khu vực này phải hỗ trợ, bổ sung cho nhau, tạo thành hệ sinh thái doanh nghiệp năng động, hiệu quả, bền vững.

Thứ trưởng Bộ Tài chính Cao Anh Tuấn: Doanh nghiệp không chỉ là "đối tượng phục vụ" hay thực thi chính sách, mà là chủ thể kiến tạo tăng trưởng và tham gia định hình chiến lược phát triển quốc gia.

Doanh nghiệp là chủ thể kiến tạo tăng trưởng

Ông Cao Anh Tuấn cho rằng, trong tổng thể đó, cần chuyển mạnh nhận thức và cách tiếp cận: doanh nghiệp không chỉ là "đối tượng phục vụ" hay thực thi chính sách, mà là chủ thể kiến tạo tăng trưởng và tham gia định hình chiến lược phát triển quốc gia.

Trong đó các doanh nghiệp lớn phải trở thành lực lượng dẫn dắt, có khả năng tham gia sâu vào chuỗi giá trị toàn cầu và nâng cao năng lực tự chủ của nền kinh tế.

Trên cơ sở đó, Bộ Tài chính kiến nghị: Về phía các Bộ, ngành, địa phương, cần quyết liệt triển khai đồng bộ, hiệu quả các chủ trương lớn của Bộ Chính trị về phát triển kinh tế tư nhân, kinh tế nhà nước, khoa học công nghệ, đổi mới sáng tạo, chuyển đổi số; hội nhập quốc tế....

Trọng tâm là hoàn thiện thể chế, cải cách mạnh mẽ môi trường đầu tư kinh doanh, cắt giảm thực chất điều kiện kinh doanh, chuyển mạnh từ tiền kiểm sang hậu kiểm thủ tục hành chính; bảo đảm quyền tự do kinh doanh và tiếp cận bình đẳng các nguồn lực giữa các khu vực doanh nghiệp.

Đồng thời hoàn thiện khung pháp lý cho các mô hình kinh tế mới; cho phép áp dụng cơ chế "sandbox" cơ chế chuyên biệt đáp ứng yêu cầu phát triển kinh tế số, trọng tâm là công nghệ tài chính, trí tuệ nhân tạo, công nghệ chiến lược, công nghệ mới....

Về phía doanh nghiệp, cần tiếp tục phát huy tinh thần tiên phong và khát vọng cống hiến vì một quốc gia cường thịnh; chủ động đầu tư cho khoa học công nghệ, đổi mới sáng tạo, chuyển đổi số, chuyển đổi xanh, nâng cao năng lực quản trị, chất lượng nguồn nhân lực và sức cạnh tranh.

Chủ động tham gia cùng nhà nước triển khai các dự án lớn, chương trình khoa học và công nghệ cấp quốc gia, trọng điểm, tập trung vào các ngành, lĩnh vực ưu tiên phục vụ mục tiêu thúc đẩy tăng trưởng hai con số.

Chủ động nâng cao năng lực sản xuất, đặc biệt trong các ngành công nghiệp chiến lược, tiến tới tự lực, tự chủ và tự cường về khoa học và công nghệ. Chủ động tận dụng các hiệp định thương mại tự do thế hệ mới mà Việt Nam đã hoặc cam kết sẽ tham gia.

Các đại biểu dự Hội nghị - Ảnh VGP/Nhật Bắc

Về phía các tổ chức hiệp hội doanh nghiệp, cần tăng cường liên kết giữa các doanh nghiệp hội viên, giữa doanh nghiệp trong nước với doanh nghiệp nước ngoài; đẩy mạnh xúc tiến thương mại, bảo vệ quyền lợi hợp pháp của hội viên, chủ động phối hợp với các cơ quan hỗ trợ doanh nghiệp xây dựng, triển khai hiệu quả các chương trình, chính sách, giải pháp hỗ trợ. Đồng thời, các hiệp hội cần phát huy vai trò cầu nối hiệu quả giữa Nhà nước và cộng đồng doanh nghiệp.

Mục tiêu tăng trưởng hai con số không chỉ là yêu cầu về tốc độ, mà là yêu cầu chuyển đổi mô hình phát triển và nâng cao năng lực cạnh tranh quốc gia. Đây không chỉ là nhiệm vụ kinh tế, mà là sứ mệnh chiến lược để đưa đất nước vượt qua bẫy thu nhập trung bình, hiện thực hóa khát vọng trở thành quốc gia phát triển, thu nhập cao vào năm 2045.

Trong tiến trình đó, doanh nghiệp phải thực sự trở thành lực lượng tiên phong, dẫn dắt đổi mới sáng tạo và tạo dựng vị thế của Việt Nam trong nền kinh tế toàn cầu, Thứ trưởng Bộ Tài chính cho biết.

Ông Lê Ngọc Sơn, Chủ tịch Tập đoàn Công nghiệp – Năng lượng quốc gia Việt Nam (Petrovietnam) phát biểu tại Hội nghị - Ảnh VGP/Nhật Bắc

3 định hướng chiến lược để Petrovietnam tăng trưởng 2 con số

Đại diện doanh nghiệp đầu tiên phát biểu tại Hội nghị, ông Lê Ngọc Sơn, Chủ tịch Tập đoàn Công nghiệp – Năng lượng quốc gia Việt Nam (Petrovietnam) cho biết: Nhìn lại chặng đường 5 năm qua, trong bối cảnh tình hình thế giới đầy biến động, Tập đoàn Công nghiệp Năng lượng Quốc gia Việt Nam đã vươn lên mạnh mẽ, hoàn thành và vượt toàn diện 13/13 chỉ tiêu mà Thủ tướng Chính phủ giao. Những con số tăng trưởng so với năm 2021 là minh chứng rõ nét nhất.

Về quy mô tổng tài sản, Petrovietnam đến hết năm 2025 đạt 1,18 triệu tỷ đồng, tăng 9,28% so với thời điểm đầu năm và 38,4% so với đầu năm 2021.

Tổng doanh thu toàn Petrovietnam năm 2025 đạt 1,1 triệu tỷ đồng, tăng 76% so với năm 2021. Đồng thời, nộp ngân sách nhà nước chiếm từ 7-9% tổng thu ngân sách nhà nước và đạt trung bình trên 165.000 tỷ đồng/năm. Lợi nhuận trước thuế năm 2025 thì đạt 66.000 tỷ đồng và tăng 27% so với năm 2021.

Và đặc biệt, nếu so với các tập đoàn năng lượng trong khu vực Đông Nam Á thì năm 2025, Petrovietnam là đơn vị duy nhất tăng trưởng đồng thời cả 3 chỉ tiêu cốt lõi về doanh thu, lợi nhuận và tổng tài sản. Với năm 2025 so với 2024, thì doanh thu hợp nhất thì tăng 14%.

Và đặc biệt, chỉ tiêu về tổng tài sản, lợi nhuận và tỷ suất lợi nhuận trên tổng tài sản và tỷ suất lợi nhuận trên vốn chủ sở hữu thì đều được cải thiện. ROA tăng từ vị trí số 3 lên vị trí số 2 và ROE từ vị trí số 3 lên vị trí số 1 của 4 tập đoàn năng lượng lớn nhất trong khu vực.

Để đạt được những kết quả như vậy, bên cạnh sự quyết tâm, cố gắng của cả hệ thống, Petrovietnam đã nhận được nhiều sự quan tâm, lãnh đạo, chỉ đạo sát sao của các đồng chí lãnh đạo Đảng, Nhà nước.

Bước sang năm 2026, nhận nhiệm vụ từ Chính phủ về mục tiêu tăng trưởng hai con số, chúng tôi xem đây là một thách thức lớn nhưng cũng là mệnh lệnh để quyết tâm bứt phá. Sự quyết liệt ấy đã được hiện thực hóa bằng những kết quả hết sức tích cực trong quý I năm 2026.

Thứ nhất, về khai thác dầu thô, đã tăng trưởng 10,4% so với cùng kỳ. Đây cũng là năm đầu tiên đạt được tăng trưởng sau 11 năm.

Thứ hai, về sản xuất điện, tăng 17,5% so với cùng kỳ và sản xuất xăng dầu thì đạt được hơn 14 triệu tấn, góp phần quan trọng trong việc đảm bảo an ninh năng lượng quốc gia. Và đồng thời, doanh thu hợp nhất thì tăng 17% so với cùng kỳ và đạt 10% so với kế hoạch của Chính phủ giao, và tiếp tục là cơ sở để tạo cái đà tăng trưởng vững chắc cho các quý còn lại trong năm và cho giai đoạn tiếp theo.

Và để đạt được mục tiêu tăng trưởng hai con số của cả năm và cho giai đoạn 5 năm (2026-2030), Petrovietnam tập trung với ba định hướng chiến lược trọng tâm.

Thứ nhất là đột phá về năng lực quản trị. Chúng tôi kiên định giữ vững nền tảng cốt lõi, đảm bảo an toàn và hiệu quả. Toàn hệ thống đang thực hiện nghiêm về kỷ luật sản xuất, kỷ cương điều hành, siết chặt quản trị rủi ro và chi phí. Và đặc biệt, Tập đoàn đang tăng tốc hoàn thiện hệ thống quản trị hiện đại, minh bạch theo Nghị quyết 79, lấy con người làm trung tâm, phát huy sức mạnh văn hóa và sức mạnh nội sinh của toàn bộ hệ thống.

Thứ hai là đẩy mạnh đầu tư trọng điểm, tạo động lực tăng trưởng mới. Với quan điểm đầu tư phải đi trước một bước, tạo động lực tăng trưởng, Tập đoàn kiên quyết tháo gỡ mọi điểm nghẽn, không để chậm tiến độ làm mất cơ hội phát triển. Cụ thể, Tập đoàn tiếp tục đẩy mạnh đầu tư trong hoạt động thăm dò, khai thác dầu khí. Đây là hoạt động cốt lõi của Tập đoàn.

Thứ hai là tập trung vào các dự án đầu tư trọng điểm của ngành, ví dụ như là dự án Lô B - Ô Môn, ví dụ như là nâng cấp mở rộng nhà máy lọc dầu Dung Quất. Đồng thời, tăng cường đầu tư để hình thành các trung tâm công nghiệp năng lượng sinh thái và tổ hợp về điện khí LNG. Cùng với đó là sự tích cực chuẩn bị cho dự án điện hạt nhân Ninh Thuận 2.

Thứ ba là chuyển dịch chiến lược và đổi mới sáng tạo. Tập đoàn tiếp tục mở rộng không gian tăng trưởng xanh, sạch, bền vững, chủ động tham gia sâu vào xu thế chuyển dịch năng lượng và đẩy mạnh nghiên cứu, đầu tư vào điện gió ngoài khơi. Đồng thời, tạo đột phá thực sự bằng việc đẩy mạnh ứng dụng trí tuệ nhân tạo và quản trị thông minh theo đúng tinh thần đột phá chiến lược quốc gia.

Phát huy truyền thống 65 năm lịch sử cùng sự quan tâm, chỉ đạo sát sao của Đảng, Chính phủ, Petrovietnam cam kết sẽ nỗ lực cao nhất, quyết tâm hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ, đóng góp xứng đáng vào mục tiêu tăng trưởng hai con số của đất nước trong năm 2026 và giai đoạn tới.

Ông Tào Đức Thắng, Chủ tịch kiêm Tổng Giám đốc Tập đoàn Công nghiệp - Viễn thông Quân đội (Viettel) phát biểu tại Hội nghị - Ảnh VGP/Nhật Bắc

6 nội dung mang tính nền tảng của chiến lược đầu tư ra nước ngoài

Ông Tào Đức Thắng, Chủ tịch kiêm Tổng Giám đốc Tập đoàn Công nghiệp - Viễn thông Quân đội (Viettel) nêu rõ: Quán triệt thực hiện Nghị quyết 01/NQ-CP của Chính phủ về nhiệm vụ, giải pháp chủ yếu thực hiện Kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội năm 2026, dưới sự chỉ đạo của Thủ trưởng Bộ Quốc phòng, ngay từ những ngày đầu năm 2026, Viettel đã chủ động triển khai đồng bộ nhiều giải pháp trên tất cả các lĩnh vực hoạt động, hướng tới mục tiêu tăng trưởng 2 con số.

Trong quý 1/2026, về kết quả hoạt động sản xuất kinh doanh, Tập đoàn hoàn thành 107% kế hoạch quý, tăng trưởng 19% so với cùng kỳ năm 2025. Đặc biệt trong đó, lĩnh vực đầu tư ra nước ngoài của Tập đoàn tiếp tục duy trì đà tăng trưởng cao gần 30%, đóng góp gần 60% vào tăng trưởng chung của Tập đoàn.

Từ thực tiễn trên, với góc độ một doanh nghiệp, lãnh đạo Viettel đề xuất một số giải pháp nhằm mở rộng không gian kinh tế quốc gia thông qua đầu tư ra nước ngoài, xuất phát từ một số lý do sau:

Một là, vị thế và vai trò của Việt Nam trên trường quốc tế đã được nâng lên tầm cao mới. Dưới sự chỉ đạo sát sao của Đảng và Nhà nước, ngoại giao kinh tế đã trở thành một mũi nhọn chiến lược.

Hình ảnh đồng chí Tổng Bí thư, đồng chí Thủ tướng Chính phủ và các đồng chí lãnh đạo Đảng, Nhà nước thường xuyên chủ trì, tham gia các diễn đàn đa phương và song phương lớn thế giới; nhiều lãnh đạo các nước, lãnh đạo các doanh nghiệp hàng đầu tế giới đến thăm và làm việc với lãnh đạo Đảng và nhà nước ta, cũng đã đến thăm các Tập đoàn lớn của Việt Nam từ đó đã mở ra nhiều cơ hội mới cho các doanh nghiệp Việt Nam tự tin tiến ra toàn cầu.

Hai là, Bộ Chính trị đã ban hành Nghị quyết số 59-NQ/TW về hội nhập quốc tế trong tình hình mới, trong đó xác định rõ nhiệm vụ "khuyến khích doanh nghiệp Việt Nam đầu tư, kinh doanh có hiệu quả ở nước ngoài; xây dựng và bảo vệ các thương hiệu quốc gia đạt tầm quốc tế".

Nghị quyết 68 - NQ/TW về kinh tế tư nhân và Nghị quyết 79- NQ/TW về kinh tế nhà nước đều đặt mục tiêu Việt Nam có doanh nghiệp trong tốp đầu của khu vực và thế giới, muốn vậy các doanh nghiệp Việt Nam phải vươn tầm ra thế giới.

Ba là, Việt Nam đã hình thành được một số doanh nghiệp có kinh nghiệm đầu tư nước ngoài như FPT bắt đầu chiến lược xuất khẩu phần mềm từ năm 1998, Petrovietnam với gần 24 năm khẳng định năng lực tại các dự án năng lượng toàn cầu, VinGroup với gần 10 năm thực hiện định hướng xuất khẩu ô tô sang Mỹ, châu Âu, hay như Viettel đã có hơn 20 năm kinh nghiệm đầu tư quốc tế trong lĩnh vực viễn thông và giải pháp số.

Ngoài ra, bên cạnh hiệu quả về kinh tế, đầu tư ra nước ngoài còn giúp phần thúc đẩy đối ngoại Đảng, ngoại giao Nhà nước, đối ngoại quốc phòng. Như Tổng Bí thư Tô Lâm đã nhấn mạnh trong chuyến thăm và làm việc tại Viettel Campuchia ngày 13/7/2024: "Đầu tư ra nước ngoài không chỉ mang lại hiệu quả kinh tế, mà còn phục vụ lợi ích quốc gia về chính trị, đối ngoại, quốc phòng, góp phần nâng cao hình ảnh và vị thế của Việt Nam".

Từ những lý do trên, ông Tào Đức Thắng làm rõ 6 nội dung mang tính nền tảng của chiến lược đầu tư ra nước ngoài như sau:

Thứ nhất, về tư duy: Cần xác định mở rộng không gian kinh tế ra quốc tế là một trụ cột quan trọng của tăng trưởng quốc gia. Đầu tư ra nước ngoài không chỉ là đi ra, mà là tổ chức nền kinh tế theo hướng hai chiều: Vừa mở rộng ra bên ngoài, vừa thu hút nguồn lực toàn cầu vào Việt Nam.

Thứ hai, về không gian: Bên cạnh các thị trường truyền thống hiện nay, cần quan tâm thêm các thị trường đang phát triển tại ASEAN, Nam Á, Trung Đông, châu Phi và Mỹ Latin – nơi phù hợp với năng lực triển khai của Việt Nam. Đồng thời, cần chủ động tiếp cận các thị trường phát triển để nâng cấp công nghệ và tiêu chuẩn, coi Việt Nam là điểm đến quốc tế để thu hút dòng giá trị toàn cầu.

Thứ ba, về lĩnh vực ưu tiên: Cần tập trung vào các mũi nhọn như: Hạ tầng chiến lược; công nghiệp công nghệ cao và các ngành dịch vụ giá trị cao có khả năng thu hút dòng chi tiêu quốc tế.

Thứ tư, về lợi thế cạnh tranh: Phát huy tối đa những lợi thế cạnh tranh đặc thù của Việt Nam như nguồn nhân lực có khả năng thích ứng cao, chi phí hợp lý và năng lực triển khai thực tiễn mạnh; kinh nghiệm phát triển hạ tầng và dịch vụ trên quy mô lớn, cho phép không chỉ xuất khẩu sản phẩm mà có thể xuất khẩu mô hình; mạng lưới hội nhập sâu rộng cùng uy tín quốc gia ngày càng được nâng cao và đặc biệt là vị thế cân bằng trong quan hệ quốc tế.

Thứ năm, về tổ chức lực lượng, cần hình thành các tập đoàn kinh tế chủ lực đóng vai trò dẫn dắt, tổ chức doanh nghiệp đi ra quốc tế theo mô hình hệ sinh thái. Các tổ chức này cần được xác định là "tổng thầu quốc gia", có khả năng tích hợp, triển khai và dẫn dắt các doanh nghiệp khác tham gia theo chuỗi giá trị. Đây là mô hình mà Nhật Bản, Hàn Quốc đã thực hiện thành công và Trung Quốc đang triển khai ở quy mô lớn.

Thứ sáu, về cơ chế chính sách: Cần có cách tiếp cận ở tầm quốc gia. Kinh nghiệm quốc tế cho thấy, nhiều quốc gia đã xây dựng các tổ chức và công cụ hỗ trợ doanh nghiệp đầu tư ra nước ngoài một cách bài bản, hiệu quả như Nhật Bản có JETRO và JICA, Hàn Quốc có KOTRA và KOICA, Trung Quốc có chiến lược Vành đai – Con đường…

Trên cơ sở những nội dung nền tảng trên, tôi xin đề xuất một số giải pháp cụ thể, đó là:

1. Xây dựng một Chương trình quốc gia về mở rộng không gian kinh tế ra quốc tế.

2. Thí điểm các cơ chế đặc thù, chấp nhận rủi ro cho các Tập đoàn chủ lực khi đầu tư vào các ngành công nghệ mới hoặc thị trường chiến lược.

3. Hình thành cơ chế tài chính và bảo lãnh rủi ro cấp Chính phủ để bảo vệ doanh nghiệp trước các biến động địa chính trị toàn cầu.

4. Nâng cấp vai trò hệ thống cơ quan đại diện ở nước ngoài thành đầu mối phát triển thị trường thực thụ.

5. Thường xuyên rà soát, đánh giá kết quả thực hiện các thỏa thuận hợp tác cấp Nhà nước đã ký kết, đảm bảo tính thực chất và hiệu quả.

Có thể khẳng định rằng, nếu không hình thành được một cấu trúc tổ chức ở tầm quốc gia, doanh nghiệp Việt Nam sẽ tiếp tục đi ra theo cách đơn lẻ và khó có thể xây dựng được năng lực cạnh tranh toàn cầu.

Mở rộng không gian kinh tế ra quốc tế không chỉ là một lựa chọn, mà là con đường bắt buộc để Việt Nam vươn lên trong giai đoạn tới. "Tiên phong trong hội nhập quốc tế và đầu tư nước ngoài có hiệu quả" cũng chính là 1 trong 5 "tiên phong" mà Thủ tướng Chính phủ đã yêu cầu Doanh nghiệp Nhà nước thực hiện tại Hội nghị với Doanh nghiệp nhà nước vào tháng 6/2024.