Cai thầu xây dựng nhận hơn 1 tỷ đồng rồi trả công thợ qua tài khoản cá nhân thì thuế phải nộp được tính thế nào? Cơ quan thuế giải đáp

Admin
Cơ quan thuế đã có câu trả lời gửi đến công dân liên quan đến việc nhận tiền công qua tài khoản cá nhân.

Một độc giả vừa gửi câu hỏi đến Cổng thông tin điện tử Bộ Tài chính cho biết bản thân làm cai xây dựng, không thành lập doanh nghiệp, chủ yếu nhận công trình từ các nhà thầu rồi thuê đội thợ thi công. Thỉnh thoảng người này cũng nhận thêm công trình nhà dân, chỉ làm nhân công, không bao thầu vật liệu.

Sau mỗi công trình, tiền công được nhà thầu chuyển vào tài khoản, có khi trả ngay nhưng cũng có khi 1–2 năm sau mới thanh toán. Tính bình quân theo năm, tổng số tiền nhân công mà độc giả nhận vào tài khoản khoảng hơn 1 tỷ đồng từ nhiều nhà thầu trong khu vực, sau đó chi trả lại tiền công cho đội thợ.

Độc giả băn khoăn với hình thức làm việc như vậy thì bản thân phải nộp những loại thuế nào và cách tính ra sao.

Trả lời câu hỏi này, Thuế tỉnh Bắc Ninh cho biết, tại Điều 3, khoản 25 Điều 5 (được sửa đổi tại điểm b, khoản 1 Điều 1 Luật số 149/2025/QH15 ngày 11/12/2025 của Quốc hội sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Thuế giá trị gia tăng) và khoản 2 Điều 12 Luật Thuế giá trị gia tăng số 48/QH15 ngày 26/11/2024 quy định:

Điều 3. Đối tượng chịu thuế

Hàng hóa, dịch vụ sử dụng cho sản xuất, kinh doanh và tiêu dùng ở Việt Nam là đối tượng chịu thuế giá trị gia tăng, trừ các đối tượng quy định tại Điều 5 của Luật này.

Điều 5. Đối tượng không chịu thuế

Hàng hóa, dịch vụ của hộ, cá nhân sản xuất, kinh doanh có mức doanh thu năm từ 500 triệu đồng trở xuống; tài sản của tổ chức, cá nhân không kinh doanh, không phải là người nộp thuế giá trị gia tăng bán ra; hàng dự trữ quốc gia do cơ quan dự trữ quốc gia bán ra; các khoản thu phí, lệ phí theo quy định của pháp luật về phí và lệ phí.

Điều 12. Phương pháp tính trực tiếp

Số thuế giá trị gia tăng phải nộp theo phương pháp tính trực tiếp theo doanh thu bằng tỷ lệ % nhân với doanh thu áp dụng như sau:

a) Đối tượng áp dụng bao gồm:

a1) Doanh nghiệp, hợp tác xã, liên hiệp hợp tác xã có doanh thu hàng năm dưới mức ngưỡng doanh thu 01 tỷ đồng, trừ trường hợp tự nguyện áp dụng phương pháp khấu trừ thuế quy định tại khoản 2 Điều 11 của Luật này;

a2) Hộ, cá nhân sản xuất, kinh doanh, trừ trường hợp quy định tại khoản 3 Điều này;

a3) Tổ chức nước ngoài không có cơ sở thường trú tại Việt Nam, cá nhân ở nước ngoài là đối tượng không cư trú tại Việt Nam có doanh thu phát sinh tại Việt Nam chưa thực hiện đầy đủ chế độ kế toán, hóa đơn, chứng từ, không bao gồm các nhà cung cấp nước ngoài quy định tại khoản 4 Điều 4 của Luật này;

a4) Tổ chức khác, trừ trường hợp nộp thuế theo phương pháp khấu trừ thuế quy định tại khoản 2 Điều 11 của Luật này;

b) Tỷ lệ % để tính thuế giá trị gia tăng được quy định như sau:

b1) Phân phối, cung cấp hàng hóa: 1%;

b2) Dịch vụ, xây dựng không bao thầu nguyên vật liệu: 5%;

b3) Sản xuất, vận tải, dịch vụ có gắn với hàng hóa, xây dựng có bao thầu nguyên vật liệu: 3%;

b4) Hoạt động kinh doanh khác: 2%;

c) Doanh thu để tính thuế giá trị gia tăng là tổng số tiền bán hàng hóa, dịch vụ ghi trên hóa đơn bán hàng, bao gồm các khoản phụ thu và phí thu thêm mà cơ sở kinh doanh được hưởng.”

Tại Điều 7 Luật Thuế thu nhập cá nhân số 109/2025/QH15 ngày 10/12/2025 của Quốc hội quy định:

Điều 7. Thuế thu nhập cá nhân đối với thu nhập từ kinh doanh

Cá nhân cư trú có hoạt động sản xuất, kinh doanh có mức doanh thu năm từ 500 triệu đồng trở xuống không phải nộp thuế thu nhập cá nhân. Chính phủ trình Ủy ban Thường vụ Quốc hội điều chỉnh mức doanh thu không phải nộp thuế thu nhập cá nhân cho phù hợp với tình hình kinh tế - xã hội trong từng thời kỳ. Thuế thu nhập cá nhân đối với thu nhập từ kinh doanh của cá nhân cư trú có doanh thu năm trên mức quy định tại khoản 1 Điều này được xác định bằng thu nhập tính thuế nhân (x) với thuế suất. Trong đó:

a) Thu nhập tính thuế được xác định bằng doanh thu của hàng hóa, dịch vụ bán ra trừ (-) đi chi phí liên quan đến hoạt động sản xuất, kinh doanh trong kỳ tính thuế;

b) Cá nhân kinh doanh có doanh thu năm trên mức quy định tại khoản 1 Điều này đến 03 tỷ đồng: thuế suất 15%;

c) Cá nhân kinh doanh có doanh thu năm trên 03 tỷ đồng đến 50 tỷ đồng: thuế suất 17%;

d) Cá nhân kinh doanh có doanh thu năm trên 50 tỷ đồng: thuế suất 20%.

Thu nhập từ cho thuê bất động sản quy định tại khoản 4 Điều này không áp dụng cách tính thuế quy định tại khoản này.

Cá nhân kinh doanh có doanh thu năm trên mức quy định tại khoản 1 Điều này đến 03 tỷ đồng được lựa chọn nộp thuế theo quy định tại điểm a và điểm b khoản 2 Điều này hoặc nộp thuế theo thuế suất nhân (x) với doanh thu tính thuế. Doanh thu tính thuế và thuế suất được xác định như sau:

a) Doanh thu tính thuế được xác định bằng phần doanh thu vượt trên mức quy định tại khoản 1 Điều này;

b) Phân phối, cung cấp hàng hóa: thuế suất 0,5%;

c) Dịch vụ, xây dựng không bao thầu nguyên vật liệu: thuế suất 2%. Riêng hoạt động cho thuê tài sản, đại lý bảo hiểm, đại lý xổ số, đại lý bán hàng đa cấp: thuế suất 5%;

d) Sản xuất, vận tải, dịch vụ có gắn với hàng hóa, xây dựng có bao thầu nguyên vật liệu: thuế suất 1,5%;

đ) Hoạt động cung cấp sản phẩm và dịch vụ nội dung thông tin số về giải trí, trò chơi điện tử, phim số, ảnh số, nhạc số, quảng cáo số: thuế suất 5%;

e) Hoạt động kinh doanh khác: thuế suất 1%.

Cá nhân cho thuê bất động sản, trừ hoạt động kinh doanh lưu trú, nộp thuế thu nhập cá nhân được xác định bằng phần doanh thu vượt trên mức quy định tại khoản 1 Điều này nhân (x) với thuế suất 5%. Chính phủ quy định chi tiết Điều này.”

Căn cứ các quy định trên và nội dung câu hỏi của độc giả thì:

Về loại thuế phải nộp: Trong năm, độc giả có mức doanh thu trên 1 tỷ đồng thì thuộc đối tượng phải nộp thuế giá trị gia tăng và thuế thu nhập cá nhân.

Về phương pháp tính thuế:

Thuế giá trị gia tăng: Cá nhân nộp thuế theo phương pháp trực tiếp theo doanh thu. Số thuế phải nộp được xác định bằng tỷ lệ % nhân doanh thu; tỷ lệ % đối với ngành nghề xây dựng không bao thầu nguyên vật liệu là 5% (tỷ lệ % đối với ngành nghề xây dựng bao thầu nguyên vật liệu là 3%). Thuế thu nhập cá nhân: Cá nhân nộp thuế theo thuế suất nhân (x) doanh thu tính thuế. Doanh thu tính thuế được xác định bằng phần doanh thu vượt trên mức 500 triệu đồng; thuế suất đối với ngành nghề xây dựng không bao thầu nguyên vật liệu là 2% (thuế suất đối với ngành nghề xây dựng bao thầu nguyên vật liệu là 1,5%).

Như vậy, trong trường hợp độc giả có tổng tiền nhân công nhận được khoảng hơn 1 tỷ đồng mỗi năm, theo hướng dẫn của cơ quan thuế, cá nhân này sẽ thuộc diện phải kê khai và nộp thuế GTGT và thuế TNCN đối với hoạt động kinh doanh nhân công xây dựng.

Theo cơ quan thuế, nếu còn vướng mắc, người nộp thuế có thể liên hệ trực tiếp cơ quan thuế địa phương để được hướng dẫn cụ thể trong quá trình thực hiện nghĩa vụ thuế.