Long Biên là cái tên quen thuộc dùng để gọi cây cầu thép hơn 120 năm tuổi bắc qua sông Hồng, nhưng không phải là cái tên đầu tiên hay duy nhất.
Cầu Long Biên 120 tuổi. (Ảnh: Công An Nhân Dân)
Cầu Long Biên từng mang tên gọi nào?
Doumer là “tên khai sinh” của cây cầu đầu tiên bắc qua sông Hồng. Theo cuốn hồi ký Xứ Đông Dương của Paul Doumer (Toàn quyền Đông Dương 1897-1902, Tổng thống Pháp 1931-1932), sau khi nhậm chức Toàn quyền, ông đề xuất xây dựng một cây cầu lớn qua sông Hồng, coi đây là công trình hạ tầng cực kỳ cấp thiết để kết nối Hà Nội với các tỉnh ở tả ngạn con sông. Khi công trình khánh thành ngày 28/2/1902, cây cầu được đặt theo tên ông - Doumer.
Năm 1945, bác sỹ Trần Văn Lai, Đốc lý người Việt đầu tiên của Hà Nội, đổi tên cầu Doumer thành Long Biên. Từ đó, Long Biên trở thành tên gọi chính thức của cây cầu.
Bên cạnh tên hành chính, trong đời sống thường ngày, người dân Hà Nội còn gọi công trình bằng những tên gắn với vị trí địa lý như cầu Sông Cái - xuất phát từ một tên gọi khác của sông Hồng, hay cầu Bồ Đề - cái tên bắt nguồn từ việc cây cầu bắc qua bến Bồ Đề.
Ngoài tên Long Biên, người dân từng gọi cây cầu là cầu sông Cái hoặc cầu Bồ Đề.
Cầu Long Biên được xây dựng thế nào?
Ngay sau khi Toàn quyền Paul Doumer đến Hà Nội, cuộc tuyển chọn nhà thầu xây dựng cầu được tổ chức năm 1897 với sự tham gia của sáu công ty lớn của Pháp. Daydé et Pillé được lựa chọn nhờ đáp ứng giải pháp kỹ thuật và kinh phí. Trước đó, doanh nghiệp này đã thực hiện nhiều công trình cầu và kết cấu thép nổi tiếng như cầu kênh Briare, cầu Mirabeau, ga đường sắt Bordeaux-Saint-Jean và mái vòm cùng gian giữa của Cung điện Grand Palais ở Paris.
Cầu Doumer được thiết kế theo kỹ thuật dầm hẫng, cho phép các nhịp dài và nhẹ hơn. Công trình có 19 nhịp với 20 trụ xây ở độ sâu hơn 30m dưới mực nước thấp nhất. Tổng chiều cao cây cầu là 61m. Cây cầu có 2 nhịp hai đầu dài 78,70m và 9 nhịp dài 75m, xen kẽ với 8 nhịp dài 106,20m.
Công trình được khởi công vào ngày 12/9/1898. Trở ngại đầu tiên là mực nước sông Hồng thay đổi theo mùa, có thể dâng thêm khoảng 8m vào mùa lũ với tốc độ dòng chảy lên tới 4m/giây. Vì vậy, việc xây dựng được triển khai từ tháng 11 đến tháng 6 năm sau và tạm dừng trong mùa mưa lũ.
Mùa nước cạn được lựa chọn để đào móng xây trụ - một công đoạn khó nhất. Công việc được thực hiện ở độ sâu tới 30m bằng phương pháp do kỹ sư Jacques Triger sáng chế ra. Phương pháp này phải dùng máy nén khí. Đầu tiên, một giếng chìm hơi ép được nhấn chìm xuống đất và sau đó được điều áp để ngăn nước tràn vào. Tiếp đó, chiếc giếng biến thành một khoang điều áp có nắp.
Trong một buồng khí nén phía dưới, công nhân đào đất chuyển lên trên theo ống giếng thép. Chiếc giếng chìm bằng thép được nhấn chìm xuống mỗi ngày vài chục centimet. Dần dần giếng được dằn bê tông và đá. Khi đạt đến độ sâu mong muốn, giếng chìm được giữ nguyên vị trí và tạo thành nền của các trụ cầu, để sau đó xây dựng ở phía trên.
Các kết cấu quan trọng nhất, dầm thép và bu lông, được chuyển từ Pháp sang và sau đó được công nhân Việt Nam lắp ráp tại chỗ khi thi công. Cây cầu tiến từng chút một qua sông.
Ngày 3/2/1902, hai bờ được nối với nhau, chỉ còn phải san lấp khoảng vài trăm mét, công việc chỉ cần vài ngày.
Việc xây dựng cầu cần 30.000m³ đá, 6.000 tấn kim loại, 2.000m³ gỗ để dựng giàn giáo được sử dụng. Mất 3 năm 7 tháng để hoàn thành, công trình không chỉ về đích sớm hơn kế hoạch 5 năm mà còn được thi công đúng ngân sách. Tổng chi phí xây dựng thực tế là 6,2 triệu franc.
Cầu Doumer trong quá trình thi công.
Cầu Long Biên được mở rộng và gia cường
Ban đầu, cây cầu được thiết kế chỉ dành cho đường sắt, có hai bên vỉa hè 1,3m cho người đi bộ, xe kéo và người đi xe đạp. Còn ô tô phải qua sông bằng phà. Việc mở rộng làn đường bộ trên cầu được tiến hành vào năm 1922.
Công ty Daydé và Pillé là công ty thi công công trình. Công trình khởi công năm 1922 và hoàn thành vào tháng 12 năm 1923.
Vỉa hè ban đầu của cầu sẽ được thay thế bằng 2 làn xe chạy 2 bên mặt phẳng giàn chủ. Mỗi làn xe bao gồm phần xe chạy 2,2m và vỉa hè 1m. Ngoài ra, còn có 4 đoạn tránh xe dài 15m, rộng 4,2m bố trí dọc cầu để phục vụ cho việc vượt xe. Chiều dài chuyển tiếp giữa đoạn tránh xe và đoạn thông thường 7,7m mỗi đầu đoạn tránh. Bề rộng của mặt cầu tính từ hai lan can cũng tăng từ 8,15m thành 12,33m và đạt đến 14,7m tại đoạn tránh xe.
Cầu Long Biên khoảng những năm 1950. (Ảnh: Trung tâm Lưu trữ Quốc gia I)
Dự án mở rộng và gia cường cầu dùng 2.400 tấn thép và 1.600m³ gỗ cho kết cấu mặt đường và vỉa hè. Nhà thầu đảm nhiệm công trình này là Daydé et Pillé. Công trình được khởi công vào đầu năm 1922 và hoàn thành vào cuối tháng 12/1923. Ngày 23/4/1924, cây cầu mở rộng được khánh thành và chính thức thông xe.
Trong suốt những năm từ 1947 đến 1972, cây cầu hư hỏng nặng do xe cộ quá tải và lưu lượng giao thông lớn, đặc biệt bị phá hủy sau những trận ném bom của quân đội Mỹ. Nhiều lần, cầu đã được sửa chữa và khắc phục.