Sáng 23/10, tiếp tục chương trình Kỳ họp thứ 2, Bộ trưởng Bộ Tài chính Ngô Văn Tuấn trình bày tờ trình về Dự án Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Đầu tư.
Theo Bộ trưởng, dự thảo luật tập trung hoàn thiện quy định về ngành, nghề và điều kiện tiếp cận thị trường đối với nhà đầu tư nước ngoài nhằm mở rộng việc tiếp cận thị trường đối với nhà đầu tư nước ngoài. Đồng thời, bổ sung cơ chế ưu đãi vượt trội, cạnh tranh, thúc đẩy kinh tế xanh, kinh tế số.
Bộ trưởng Bộ Tài chính Ngô Văn Tuấn. Ảnh: Như Ý.
Dự thảo luật bổ sung 4 hình thức hỗ trợ đầu tư mới, gồm: hỗ trợ phát triển chuỗi cung ứng; hỗ trợ sản xuất sản phẩm công nghệ cao; hỗ trợ đầu tư tạo tài sản cố định; hỗ trợ hợp tác, liên kết giữa doanh nghiệp với các cơ sở giáo dục đại học, cơ sở giáo dục nghề nghiệp, tổ chức khoa học và công nghệ.
Ngoài ra, dự thảo luật bổ sung hình thức ưu đãi đầu tư là miễn, giảm tiền sử dụng khu vực biển theo quy định về pháp luật tài nguyên, môi trường biển và hải đảo để đảm bảo tính thống nhất, đồng bộ với quy định của pháp luật về tài nguyên, môi trường biển và hải đảo.
Về ưu đãi và hỗ trợ đầu tư đặc biệt, dự thảo luật sửa đổi, bổ sung cơ chế cho phép Chính phủ quyết định gói chính sách ưu đãi, hỗ trợ đầu tư vượt trội thuộc thẩm quyền của Chính phủ gắn với kết quả thực hiện tiêu chí, điều kiện và cam kết trong trường hợp cần khuyến khích phát triển dự án đầu tư đặc biệt quan trọng có tác động lớn đến phát triển kinh tế - xã hội.
Theo Chính phủ, việc bổ sung quy định này nhằm khuyến khích, yêu cầu doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài cam kết về công nghệ, nghiên cứu và phát triển, chuyển giao công nghệ, phát triển, đào tạo người Việt Nam, tỷ lệ giá trị gia tăng trong nước, phát triển nhà cung ứng nội địa, chuyển đổi xanh và chuyển đổi số để được hưởng các ưu đãi đầu tư theo kết quả thực hiện
Cân nhắc giao Chính phủ quyết định nới điều kiện tiếp cận thị trường
Trình bày báo cáo thẩm tra, Chủ nhiệm Ủy ban Kinh tế và Tài chính Phan Văn Mãi cho biết, đa số ý kiến ủy ban cơ bản thống nhất với định hướng mở rộng tiếp cận thị trường, phù hợp với chủ trương phát triển kinh tế có vốn đầu tư nước ngoài.
Tuy nhiên, ủy ban đề nghị cân nhắc kỹ quy định giao Chính phủ “xem xét, quyết định việc nới lỏng điều kiện tiếp cận thị trường” đối với các điều kiện được quy định tại luật, nghị quyết của Quốc hội, pháp lệnh, nghị quyết của Ủy ban Thường vụ Quốc hội và điều ước quốc tế để bảo đảm tính hợp pháp, tính thống nhất của văn bản quy phạm pháp luật trong hệ thống pháp luật và không trái với điều ước quốc tế mà nước CHXHCN Việt Nam là thành viên.
Bên cạnh đó, việc nới lỏng điều kiện tiếp cận thị trường cần được thực hiện theo lộ trình phù hợp và trên cơ sở đánh giá đầy đủ, toàn diện tác động như yêu cầu của Nghị quyết số 10-NQ/TW, nhất là tác động đối với các ngành, lĩnh vực nhạy cảm và yêu cầu bảo đảm quốc phòng, an ninh.
Đối với ưu đãi, hỗ trợ đầu tư đặc biệt, đa số ý kiến ủy ban đề nghị làm rõ ngay trong luật các nguyên tắc, tiêu chí cơ bản để xác định dự án được hưởng ưu đãi, hỗ trợ đặc biệt, nhất là các tiêu chí về “tác động lan tỏa”, “tạo động lực phát triển” và đóng góp nâng cao sức cạnh tranh của nền kinh tế, hạn chế giao quá nhiều nội dung có tính quyết định cho văn bản dưới luật. Đặc biệt, cần làm rõ cơ chế gắn ưu đãi, hỗ trợ với kết quả thực hiện cam kết của nhà đầu tư.
Bên cạnh đó, cần rà soát mối quan hệ giữa thẩm quyền của Thủ tướng Chính phủ, Chính phủ và Ủy ban Thường vụ Quốc hội trong việc quyết định ưu đãi, hỗ trợ vượt trội; làm rõ trường hợp nào là vượt thẩm quyền của Chính phủ, giới hạn về nội dung và nguồn lực ngân sách, cũng như căn cứ xác định vấn đề thuộc thẩm quyền của Ủy ban Thường vụ Quốc hội.