Hạ tầng điện cho đường sắt tốc độ cao Việt Nam: Kinh nghiệm từ Trung Quốc cho thấy điều gì?

Tuyến đường sắt tốc độ cao Bắc - Nam hoàn toàn có thể trở thành một “hành lang năng lượng mới” của quốc gia.

Đường sắt tốc độ cao cần một “hệ sinh thái điện hóa". Ảnh EVN

Trong khi các công tác giải phóng mặt bằng phục vụ Dự án Đường sắt tốc độ cao Bắc - Nam đang triển khai, từ thông tin của Bộ Xây dựng, Báo cáo nghiên cứu khả thi của dự án đang được hoàn thiện. Song song với đó, dự án đường sắt tốc độ cao Hà Nội - Quảng Ninh do Vingroup đầu tư đã khởi công, dự kiến hoàn thành vào năm 2028. Hạ tầng điện cho đường sắt tốc độ cao tuyến Bắc - Nam và các dự án độc lập nhận được sự quan tâm của giới chuyên gia.

Nhiều yêu cầu khắt khe

Từng có nhiều bài viết về vấn đề hạ tầng năng lượng phục vụ cho dự án đường sắt tốc độ cao của Việt Nam, TS Nguyễn Huy Hoạch, Thành viên Hội đồng khoa học, Hiệp hội Năng lượng Việt Nam bày tỏ băn khoăn khi chưa tiếp cận được nhiều thông tin về các bước chuẩn bị hạ tầng năng lượng để vận hành đường sắt tốc độ cao.

Theo vị chuyên gia, đường sắt tốc độ cao cần một “hệ sinh thái điện hóa" gồm nguồn cung ứng điện có độ ổn định cao, công suất lớn, khả năng điều chỉnh linh hoạt và mạng lưới truyền tải điện và các trạm biến áp dọc hành lang Bắc - Nam cung cấp cho đoàn tàu, trung tâm điều hành, thông tin tín hiệu, điều hòa nhà ga, chiếu sáng, hệ thống an toàn, bảo trì và các tổ hợp logistics liên quan.

“Theo Hội Đường sắt Quốc tế, tiêu thụ điện của đường sắt tốc độ cao phụ thuộc vào tốc độ khai thác, mật độ tàu, tải trọng, địa hình và công nghệ đoàn tàu. Trong đó, tốc độ là yếu tố tác động lớn nhất tới nhu cầu điện năng. Càng khai thác tốc độ cao, điện năng tiêu thụ càng lớn", TS Nguyễn Huy Hoạch chỉ rõ.

Về tổng lượng điện tiêu thụ, theo vị chuyên gia, thông tin này sẽ thể hiện trong Báo cáo Nghiên cứu khả thi. Tuy nhiên, so sánh với Trung Quốc, nơi đang vận hành 45.000 km đường sắt tốc độ cao, loại hình vận tải này là một trong những nhóm phụ tải điện lớn của quốc gia tiêu thụ điện hàng đầu thế giới. Việt Nam dù chỉ khai thác trên tuyến chính dài trên 1.500 km và các tuyến độc lập, nhu cầu điện chắc chắn sẽ rất đáng kể.

"Hạ tầng năng lượng cho đường sắt tốc độ cao phải đi trước một bước".

“Đường sắt tốc độ cao đòi hỏi điện áp ổn định cao, độ tin cậy gần như tuyệt đối, khả năng điều độ theo thời gian thực. Một sự cố mất điện, hoặc dao động điện áp lớn có thể ảnh hưởng trực tiếp đến an toàn vận hành. Vì vậy, hạ tầng điện cho đường sắt tốc độ cao khác rất xa với việc cấp điện cho phụ tải dân dụng, hay công nghiệp thông thường”, Thành viên Hội đồng khoa học, Hiệp hội Năng lượng Việt Nam nói.

TS Nguyễn Huy Hoạch nhận định, trong thời gian tới, để vận hành đường sắt tốc độ cao, Việt Nam phải tăng tốc đầu tư các dự án nguồn điện mới, đặc biệt là các nguồn điện linh hoạt, các trung tâm lưu trữ năng lượng và hệ thống truyền tải liên vùng quy mô lớn.

Kinh nghiệm thế giới và gợi ý cho Việt Nam

Dẫn chứng từ kinh nghiệm của Trung Quốc, vị chuyên gia của Hiệp hội Năng lượng Việt Nam khẳng định, phát triển đường sắt tốc độ cao gần như luôn đi cùng quá trình hiện đại hóa lưới điện quốc gia.

Sau năm 2008, khi Trung Quốc triển khai mạnh mạng lưới đường sắt tốc độ cao lớn nhất thế giới, quốc gia này cũng đồng thời đầu tư quy mô rất lớn cho hệ thống truyền tải siêu cao áp (Ultra High Voltage - UHV).

Các hành lang đường sắt tốc độ cao được quy hoạch đồng bộ với hành lang truyền tải điện, khu công nghiệp, trung tâm logistics và các đô thị mới. Quan trọng hơn, hạ tầng năng lượng cho đường sắt tốc độ cao phải đi trước một bước.

“Như vậy, việc đầu tư cho hạ tầng điện phục vụ đường sắt tốc độ cao cần tiến hành càng sớm càng tốt. Khi chúng ta đặt đường ray chạy tàu tốc độ cao, hạ tầng điện cho tuyến đã phải hoàn thành", TS Nguyễn Huy Hoạch nhấn mạnh.

Đại dự án đường sắt tốc độ cao Bắc - Nam đặt mục tiêu hoàn thành vào năm 2035. Ảnh minh hoạ AI

Về chi phí đầu tư, theo vị chuyên gia, nhiều quốc gia đã áp dụng mô hình phối hợp giữa nhà nước, doanh nghiệp hạ tầng điện lực và đơn vị vận hành đường sắt nhằm chia sẻ chi phí đầu tư. Dù vậy, đối với Việt Nam, vấn đề không chỉ là “ai đầu tư" mà còn phải bảo đảm tính đồng bộ giữa quy hoạch giao thông và quy hoạch năng lượng ngay từ đầu.

Đề cập tới Báo cáo nghiên cứu khả thi của Dự án Đường sắt tốc độ cao Băc - Nam, theo vị chuyên gia, báo cáo cần đặc biệt lưu ý các nội dung liên quan đến hạ tầng điện.

Đầu tiên, cần dự báo chính xác phụ tải điện của toàn tuyến, bao gồm phụ tải kéo tàu, phụ tải nhà ga, trung tâm điều hành và các khu TOD quanh ga.

Thứ hai là vấn đề cấu trúc cấp điện cho toàn tuyến, bao gồm tiêu chuẩn điện áp, cơ chế dự phòng, khoảng cách trạm biến áp kéo và phương án vận hành khi xảy ra sự cố.

Thứ ba, cần tích hợp quy hoạch điện phục vụ đường sắt tốc độ cao với Quy hoạch điện VIII điều chỉnh, đặc biệt là quy hoạch nguồn điện, lưới điện và điều độ hệ thống điện quốc gia.

Cuối cùng, cần làm rõ cơ chế phối hợp giữa Bộ Xây dựng, ngành điện, các địa phương và đơn vị vận hành đường sắt tốc độ cao trong quá trình đầu tư và vận hành.

“Nếu được quy hoạch đồng bộ với năng lượng tái tạo, lưới điện thông minh, lưu trữ điện năng và phát triển đô thị TOD, tuyến đường sắt tốc độ cao Bắc - Nam hoàn toàn có thể trở thành một “hành lang năng lượng mới” của quốc gia trong nhiều thập niên tới”, TS Nguyễn Huy Hoạch khẳng định.