Khơi thông nguồn lực cho tăng trưởng – ngân hàng không thể “đơn thương độc mã”

Có thể nói, ngành Ngân hàng đã phát huy tốt vai trò là một trong những kênh dẫn vốn quan trọng của nền kinh tế, góp phần khơi thông nguồn lực cho đầu tư, sản xuất, kinh doanh và thúc đẩy các động lực phát triển. Tuy nhiên, cũng cần nhìn nhận khách quan về những thách thức đối với điều hành chính sách tiền tệ, bên cạnh đó cần những giải pháp để phát triển thị trường vốn một cách bền vững.
PGS.TS. Trần Hoàng Ngân
PGS.TS. Trần Hoàng Ngân
Hiệu trưởng Trường Đại học Tài chính Marketing
66 bài viết
8 tháng qua điều hành chính sách tiền tệ đang đi đúng hướng. Tôi đánh giá cao điều hành chính tiền tệ của NHNN.
Tại: Kiên định điều hành chính sách tiền tệ thận trọng, linh hoạt
Trong bối cảnh kinh tế tăng trưởng nhanh, giá nguyên vật liệu trên thế giới tăng cao, dẫn đến chi phí kinh doanh tăng theo, nhu cầu vay vốn của DN tăng mạnh là tất yếu.
Tại: Mòn mỏi chờ cấp tín dụng

Điều hành để đạt được tổng thể hài hòa các mục tiêu

Năm 2026, bối cảnh thế giới phức tạp với căng thẳng địa chính trị, nguy cơ đứt gãy chuỗi cung ứng và biến động giá dầu khiến Ngân hàng Nhà nước (NHNN) đối mặt áp lực lớn về tỷ giá, lạm phát nhập khẩu và thanh khoản, làm hạn chế dư địa nới lỏng chính sách tiền tệ để hỗ trợ tăng trưởng. Xung đột quốc tế kéo dài làm gián đoạn chuỗi cung ứng và đẩy chi phí vận tải toàn cầu lên cao. Các ngân hàng trung ương (NHTW) lớn phản ứng thận trọng, neo giữ lãi suất cao (nhiều NHTW tăng lãi suất) gây sức ép lớn lên lãi suất, tỷ giá và thị trường ngoại tệ trong nước. Xu hướng nhập siêu trong nước làm tăng nhu cầu ngoại tệ phục vụ nhập khẩu, gây sức ép trực tiếp lên thị trường ngoại hối.

Trong bối cảnh đó, công tác điều hành chính sách tiền tệ của NHNN luôn đối mặt với thách thức lớn khi phải xử lý hài hòa nhiều mục tiêu, có những mục tiêu không thuận chiều nhau trong một nền kinh tế có độ mở lớn, chịu tác động trước các cú sốc từ môi trường quốc tế.

Để hỗ trợ nền kinh tế bứt tốc tăng trưởng (đặc biệt là mục tiêu tăng trưởng cao trong giai đoạn tới), có nhiều quan điểm ngân hàng cần nới lỏng dòng vốn và hạ lãi suất. Tuy nhiên, việc bơm tiền quá nhanh, hạ chuẩn cấp tín dụng và duy trì "tiền rẻ" sẽ trực tiếp kích thích lạm phát cơ bản và áp lực tăng giá hàng hóa. Trước nhu cầu vốn lớn của nền kinh tế để phục vụ phát triển kinh tế, NHNN phải khéo léo điều hành hài hòa các công cụ, chính sách để vừa kích hoạt các gói tín dụng ưu đãi hỗ trợ nền kinh tế, vừa giữ vững ổn định vĩ mô, kiểm soát lạm phát.

Doanh nghiệp trong nước mong muốn được vay lãi suất "mềm" hơn để hạ chi phí hoạt động, là mong muốn chính đáng, tuy nhiên lại là thách thức rất lớn cho hệ thống ngân hàng trong bối cảnh các NHTW lớn vẫn điều hành thận trọng, neo giữ lãi suất cao để kiểm soát lạm phát như đề cập ở trên; do đó lãi suất VND phải duy trì ở mức hợp lý để huy động được nguồn vốn để cấp tín dụng cho nền kinh tế, đồng thời tránh dòng vốn dịch chuyển ra nước ngoài, giảm áp lực mất giá lên đồng Việt Nam. Do đó, điều hành lãi suất không thể tách rời tỷ giá. Điều hành lãi suất phải đi đôi với việc củng cố niềm tin vào giá trị đồng nội tệ nhằm tránh nhập khẩu lạm phát từ biến động tỷ giá.

Chính vì vậy thời gian qua, NHNN đã điều hành tỷ giá linh hoạt, phù hợp với diễn biến thị trường, góp phần hấp thu cú sốc bên ngoài, phối hợp đồng bộ với các công cụ chính sách tiền tệ khác và linh hoạt can thiệp thị trường, nhờ đó thị trường ngoại tệ hoạt động thông suốt, tỷ giá ổn định; đồng Việt Nam tăng giá nhẹ - là một trong số ít các đồng tiền trong khu vực Châu Á tăng giá, trong khi hầu hết các đồng tiền của các nước khác mất giá từ 2%-6%.

Dòng vốn ngân hàng tiếp tục hướng đến sản xuất kinh doanh, các động lực tăng trưởng

Trong bối cảnh mục tiêu tăng trưởng hai con số đặt ra yêu cầu lớn về nguồn lực, hệ thống ngân hàng đã chủ động triển khai đồng bộ các giải pháp về nguồn vốn, lãi suất, điều kiện tiếp cận tín dụng, nhằm đẩy mạnh cung ứng tín dụng cho nền kinh tế, hỗ trợ tăng trưởng gắn với kiểm soát lạm phát.

Thực tế cho thấy, trước rất nhiều áp lực, NHNN đã rất nỗ lực giữ ổn định mặt bằng lãi suất. Cùng với đó, hàng loạt các giải pháp nhằm khơi thông nguồn vốn, thúc đẩy tăng trưởng kinh tế đã được NHNN chỉ đạo triển khai như: cho phép 25 TCTD (kể từ ngày 1/1/2026 đến hết 31/12/2026) không phải tính dư nợ tín dụng tăng thêm so với cuối năm 2025 đối với nhà ở xã hội và bất động sản (BĐS) khu công nghiệp, khu chế xuất vào dư nợ tín dụng đối với lĩnh vực BĐS khi kiểm soát mức tăng trưởng tín dụng BĐS; có cơ chế hỗ trợ về tăng trưởng tín dụng để các TCTD có thêm dư địa cấp tín dụng đối với khách hàng triển khai các dự án có quy mô lớn, trọng điểm, có tính chất lan tỏa, liên kết, thúc đẩy phát triển kinh tế vùng, địa phương; chỉ đạo, khuyến khích các NHTM triển khai Chương trình tín dụng ưu đãi cho các doanh nghiệp nhỏ và vừa, hướng đến các động lực tăng trưởng kinh tế với mức lãi suất áp dụng sẽ thấp hơn tối thiểu 1%/năm so với mức lãi suất cho vay bình quân cùng kỳ hạn mà ngân hàng đang áp dụng trong từng thời kỳ

Không chỉ vậy, để mở rộng dư địa cung ứng vốn cho hệ thống ngân hàng, hỗ trợ các dự án đầu tư lớn và thúc đẩy mục tiêu tăng trưởng kinh tế, NHNN đã điều chỉnh tỷ lệ tối đa nguồn vốn ngắn hạn được sử dụng để cho vay trung và dài hạn từ 30% lên 40% từ 01/7. Đặc biệt, để hỗ trợ thanh khoản và tạo thêm dư địa cân đối vốn cho các TCTD, góp phần phát triển kinh tế; mới đây, NHNN đã điều chỉnh tỷ lệ khấu trừ số dư tiền gửi có kỳ hạn của Kho bạc Nhà nước khi tính tỷ lệ dư nợ cho vay so với tổng tiền gửi (LDR) là 50% số dư tiền gửi có kỳ hạn của Kho bạc Nhà nước (có hiệu lực từ 1/8/2026 đến hết ngày 31/7/2028) thay vì mức 20%. Việc cho phép đưa cấu phần này sâu hơn vào dòng chảy tín dụng giúp tối ưu hóa nguồn lực tài chính công đang nhàn rỗi, biến dòng tiền ngân sách thành nguồn lực thúc đẩy sản xuất kinh doanh thông qua kênh cho vay thương mại.

Tính đến ngày 31/7/2026, dư nợ tín dụng toàn hệ thống đạt 20,26 triệu tỷ đồng, tăng 8,98% so với tháng cuối năm 2025. Cơ cấu tín dụng phù hợp với cơ cấu ngành kinh tế, vốn tín dụng tiếp tục hướng vào các lĩnh vực sản xuất kinh doanh (trong đó khoảng 77,3% dư nợ nền kinh tế phục vụ lĩnh vực sản xuất kinh doanh); một số lĩnh vực ưu tiên theo chỉ đạo của Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ chiếm tỷ trọng lớn (lĩnh vực nông nghiệp, nông thôn chiếm 21,79%, DNNVV chiếm 20%) hoặc có tốc độ tăng trưởng cao (xuất khẩu, doanh nghiệp ứng dụng công nghệ cao có tốc độ tăng trưởng lần lượt là 28,26%, 38,98%). Tín dụng đối với các lĩnh vực tiềm ẩn rủi ro tiếp tục được theo dõi chặt chẽ.

Theo đánh giá của Đại biểu Quốc hội Trần Hoàng Ngân, trong bối cảnh đầy khó khăn, biến động, NHNN đã thể hiện được sự chủ động, linh hoạt trong điều hành chính sách tiền tệ, tạo được "điểm cân bằng tương đối", hài hòa mục tiêu trong việc hỗ trợ tăng trưởng kinh tế, kiểm soát lạm phát, góp phần giữ vững ổn định kinh tế vĩ mô và đảm bảo an toàn hoạt động ngân hàng. Điều hành chính sách tiền tệ, nỗ lực duy trì mặt bằng lãi suất và việc triển khai các chương trình tín dụng của NHNN đạt được nhiều kết quả đáng ghi nhận.

Thúc đẩy phát triển thị trường vốn để đảm bảo sự phát triển bền vững

Để đạt được mục tiêu tăng trưởng kinh tế hai con số một cách bền vững, việc khơi thông các nguồn lực là vô cùng quan trọng. Trong đó, cùng với vốn tín dụng, Chính phủ cần thúc đẩy phát triển thị trường vốn trung, dài hạn để đáp ứng yêu cầu ngày càng cao của nền kinh tế. Thời gian qua, Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ cũng đã chỉ đạo quyết liệt, đồng bộ nhiều giải pháp nhằm thúc đẩy phát triển thị trường trái phiếu, chứng khoán… Tuy nhiên, việc phát triển các thị trường này cũng cần có độ trễ. Do đó, trong ngắn hạn, dòng vốn tín dụng vẫn đóng vai trò quan trọng trong việc hỗ trợ tăng trưởng kinh tế.

Về phía NHNN cũng đã chủ động hoàn thiện hành lang pháp lý thông qua việc tham mưu Chính phủ trình Quốc hội 03 dự án Luật sửa đổi bổ sung Luật NHNN Việt Nam, Luật Phòng chống rửa tiền và Luật Các tổ chức tín dụng. Trong đó, một trong những nội dung đáng chú ý là quy định cho phép ngân hàng thương mại, tổ chức tín dụng làm đại lý quản lý tài sản bảo đảm trái phiếu doanh nghiệp.

Đại biểu Quốc hội Trần Hoàng Ngân cho rằng tuy chỉ một câu nhưng có ý nghĩa lớn, góp phần cơ cấu lại thị trường tài chính Việt Nam. Theo đánh giá của Đại biểu, dư nợ trong hệ thống ngân hàng thương mại hiện hơn 20 triệu tỷ đồng, tương đương khoảng 145% GDP. Trong khi đó, định hướng vốn hóa thị trường chứng khoán khoảng 100% GDP, hiện đạt 80%; thị trường trái phiếu doanh nghiệp định hướng khoảng 25-30% GDP nhưng hiện mới khoảng 12% GDP.

Do đó, việc bổ sung chức năng cho ngân hàng thương mại làm đại lý quản lý tài sản bảo đảm trái phiếu doanh nghiệp sẽ góp phần nâng vai trò của thị trường vốn, giảm gánh nặng cung ứng vốn đang tập trung lớn vào hệ thống ngân hàng.

Tuy nhiên, Ngân hàng Nhà nước khi yêu cầu các ngân hàng thương mại phải giải thích rõ cho khách hàng đâu là đại lý phát hành, đâu là bảo lãnh thanh toán phát hành, đại lý quản lý tài sản bảo đảm để khách hàng không bị nhầm lẫn.

"Bài học về sự cố quản trị thị trường trái phiếu doanh nghiệp năm 2022 là rất lớn", Đại biểu Trần Hoàng Ngân khẳng định.