Kỳ tích y học: Bác sĩ Việt cứu thai nhi ngay từ trong bụng mẹ

Từ truyền máu song thai đến thông tim bào thai và nhiều kỹ thuật đỉnh cao, y học bào thai Việt Nam đang mở ra cơ hội sống cho nhiều thai nhi ngay từ trong bụng mẹ.

Thai phụ N.T.B.P. (28 tuổi, Hải Phòng) mang song thai chung bánh rau, hai buồng ối. Khi thai chưa đến 21 tuần tuổi, chị được chẩn đoán mắc hội chứng truyền máu song thai giai đoạn nặng, kèm thai chậm tăng trưởng chọn lọc và rối loạn huyết động nghiêm trọng.

Một thai nhi rơi vào tình trạng quá tải tuần hoàn với tim to, hở van tim, tràn dịch màng tim. Thai còn lại thiếu máu kéo dài, chậm phát triển nặng và có nguy cơ tử vong bất cứ lúc nào. Nếu không can thiệp, khả năng mất cả hai thai là rất lớn.

Truyền máu song thai là dấu mốc quan trọng của y học bào thai Việt Nam.

Sau hội chẩn đa chuyên khoa, ê-kíp quyết định thực hiện kỹ thuật nội soi đốt dây rốn bằng dao điện lưỡng cực để ngắt hoàn toàn tuần hoàn của thai bệnh lý, bảo vệ thai còn cơ hội sống.

Ca can thiệp được thực hiện bằng dụng cụ nội soi siêu nhỏ đưa vào buồng ối dưới hướng dẫn của siêu âm. Mọi thao tác đều phải chính xác gần như tuyệt đối, bởi chỉ một sai lệch nhỏ cũng có thể gây chảy máu, vỡ ối hoặc ảnh hưởng đến thai nhi còn lại.

Ca can thiệp thành công. Thai nhi tiếp tục phát triển ổn định trong tử cung và sau đó chào đời khỏe mạnh với cân nặng 2,7kg.

Theo TS.BS Nguyễn Thị Sim, Phó Tổng Giám đốc Bệnh viện Đại học Phenikaa, trước đây những trường hợp truyền máu song thai nặng gần như là “án treo” đối với thai nhi. Bác sĩ chỉ có thể theo dõi diễn tiến, chọc hút bớt nước ối hoặc chấp nhận sinh non sớm, trong khi tỷ lệ thai lưu rất cao.

Ngày nay, với sự phát triển của y học bào thai, đặc biệt là kỹ thuật nội soi laser trong buồng ối, bác sĩ có thể can thiệp trực tiếp vào các mạch máu bất thường trên bánh rau để cứu thai nhi ngay từ trong bụng mẹ.

Nếu điều trị hội chứng truyền máu song thai là thách thức lớn thì thông tim bào thai còn được xem là một trong những kỹ thuật khó nhất của y học hiện đại.

BSCKII Trần Ngọc Hải, Giám đốc Bệnh viện Từ Dũ, cho biết sau gần 10 năm chuẩn bị, trong hai năm qua bệnh viện đã làm chủ kỹ thuật thông tim bào thai - lĩnh vực có độ phức tạp hàng đầu trong can thiệp trước sinh.

Một trong những trường hợp điển hình là thai phụ N.T.T.T. (TP.HCM). Khi thai khoảng 22 - 24 tuần, các bác sĩ phát hiện bất thường tim bẩm sinh, chẩn đoán hẹp van động mạch phổi nặng kèm hở van ba lá và thai phụ được chuyển đến theo dõi, hội chẩn tại hai bệnh viện Từ Dũ và Nhi đồng 1.

Sau đó tim thai có xu hướng tiến triển, với biểu hiện thiểu sản thất phải tăng dần cả về hình thái và chức năng, nguy cơ cao diễn tiến thành tim một thất nếu không can thiệp.

Qua hội chẩn liên viện, đánh giá toàn diện về hình thái tim, chức năng thất phải và điều kiện can thiệp, các bác sĩ đã thống nhất chỉ định can thiệp thông tim bào thai nhằm tạo cơ hội cho thất phải tiếp tục phát triển trong tử cung.

Tại thời điểm can thiệp, thai nhi ở tư thế ngôi đầu, nghiêng trái, bánh nhau mặt trước, làm gia tăng mức độ khó của thủ thuật. Đặc biệt, trong quá trình tiếp cận tim thai, cánh tay thai nhi vắt ngang trước ngực, che khuất đường vào buồng tim.

Ê kíp linh hoạt thao tác để dịch chuyển cánh tay của thai nhi. Sau khi tối ưu tư thế, quá trình xuyên kim qua thành bụng mẹ - tử cung - lồng ngực thai nhi và bơm bóng nong van động mạch phổi được thực hiện thuận lợi.

Ca can thiệp thành công ngay lần xuyên kim đầu tiên, đảm bảo chính xác về kỹ thuật, hạn chế tối đa thời gian và nguy cơ cho cả mẹ và thai nhi.

Theo BSCKII Trần Ngọc Hải, trong hai năm triển khai, ê-kíp Bệnh viện Từ Dũ và Bệnh viện Nhi đồng 1 đã thực hiện 14 ca thông tim bào thai, cứu sống 13 thai nhi mắc các dị tật tim bẩm sinh phức tạp như hẹp van động mạch chủ, hẹp van động mạch phổi, thiểu sản thất trái và thiểu sản thất phải. Đặc biệt, nếu như những ca đầu tiên thời gian can thiệp lên tới 6 tiếng, thì đến ca thứ 12, ê kíp chỉ thực hiện trong chưa đầy 30 phút.

Y học bào thai Việt Nam bứt phá ngoạn mục

Theo TTND.GS.TS.BS Nguyễn Duy Ánh, Giám đốc Bệnh viện Phụ sản Trung ương, Việt Nam đi sau thế giới khoảng 10-20 năm trong lĩnh vực y học bào thai . Đến nay nhiều trung tâm trong nước làm chủ hàng loạt kỹ thuật khó như truyền máu bào thai, nội soi laser điều trị hội chứng truyền máu song thai, phẫu thuật điều trị thoát vị hoành bẩm sinh hay thông tim bào thai.

Thông tim bào thai còn được xem là một trong những kỹ thuật khó nhất của y học hiện đại

Quan trọng hơn, sự phát triển của chuyên ngành này bắt nguồn từ thay đổi mang tính nền tảng trong tư duy của ngành sản khoa, đó là coi thai nhi là bệnh nhân thực thụ.

Khi được xem là bệnh nhân, thai nhi không chỉ được sàng lọc và chẩn đoán mà còn có thể được điều trị ngay từ trong tử cung. Tử cung người mẹ vì thế trở thành “phòng mổ đặc biệt”, nơi các bác sĩ có thể can thiệp để thay đổi số phận của những em bé chưa kịp cất tiếng khóc chào đời.

“Nỗi đau lớn nhất của người thầy thuốc là phải bất lực nhìn những thai nhi mắc bệnh lý nặng mà không thể can thiệp. Chính khát vọng vượt qua giới hạn đó thúc đẩy các bệnh viện sản phụ khoa hàng đầu cả nước cùng hợp lực để làm chủ những kỹ thuật khó nhất”, GS Nguyễn Duy Ánh chia sẻ.

Việt Nam thực hiện thành công nhiều kỹ thuật can thiệp bào thai ngang tầm các trung tâm lớn trên thế giới như điều trị hội chứng truyền máu song thai, song thai biến chứng type III, truyền máu bào thai, đặt shunt điều trị các bất thường lồng ngực bẩm sinh, can thiệp u mạch nhau hay xử trí hội chứng tắc nghẽn đường hô hấp trên bẩm sinh.

Đặc biệt, tỷ lệ cứu sống được ít nhất một thai nhi trong các trường hợp mắc hội chứng truyền máu song thai bằng laser quang đông hiện đạt từ 85-90%, tương đương nhiều trung tâm y học bào thai hàng đầu thế giới.

Không dừng lại ở những bệnh lý đã làm chủ, các bệnh viện đang tiếp tục mở rộng phạm vi can thiệp sang nhiều dị tật bẩm sinh phức tạp hơn thông qua sự phối hợp liên chuyên khoa, từng bước đưa y học bào thai Việt Nam tiến gần hơn trình độ quốc tế.

Chuyên ngành mũi nhọn của y tế Việt Nam

Tại Hội nghị thường niên Y học Bào thai lần thứ IV năm 2026, Bộ trưởng Bộ Y tế Đào Hồng Lan đánh giá, những tiến bộ về siêu âm hình thái, chẩn đoán trước sinh, di truyền học và can thiệp trong tử cung góp phần quan trọng làm thay đổi tiên lượng của nhiều dị tật bẩm sinh, đồng thời đóng góp vào việc giảm tỷ lệ tử vong mẹ và tử vong sơ sinh tại Việt Nam.

Theo Bộ trưởng, mỗi thai nhi được phát hiện sớm và can thiệp kịp thời không chỉ là thêm một em bé khỏe mạnh được chào đời, mà còn là thêm một gia đình được giữ trọn hạnh phúc, và thêm những công dân khỏe mạnh cho tương lai đất nước.

Vì vậy, Bộ Y tế xác định y học bào thai là một trong những chuyên ngành mũi nhọn cần ưu tiên phát triển cùng với y học chính xác, y học di truyền và y học công nghệ cao. Việc hình thành Hiệp hội Y học Bào thai Việt Nam trong thời gian tới được kỳ vọng sẽ tạo động lực thúc đẩy nghiên cứu khoa học, đào tạo nhân lực và chuẩn hóa chuyên môn, đưa lĩnh vực còn rất trẻ này phát triển mạnh mẽ hơn.

Từ chỗ chỉ có thể đứng nhìn thai nhi đối mặt với số phận, các bác sĩ Việt Nam hôm nay có thể điều trị cho những “bệnh nhân nhỏ tuổi nhất” ngay từ trong bụng mẹ. Mỗi ca can thiệp thành công không chỉ là kỳ tích của kỹ thuật y học, mà còn đánh dấu bước trưởng thành của nền y học Việt Nam trên hành trình chinh phục những giới hạn mới.