Lương nước ngoài chuyển về tài khoản Việt Nam có phải nộp thuế?

Người nước ngoài tạm trú và mở tài khoản ngân hàng ở Việt Nam. Sau đó, người này sang Nhật làm việc theo hợp đồng và nhận lương bằng tài khoản đã mở ở Việt Nam. Khi nhận lương công ty bên Nhật đã trừ phần thuế phải đóng cho bên Nhật.

Tiền lương này khi chi trả, phía công ty tại Nhật Bản đã khấu trừ các khoản thuế theo quy định của pháp luật Nhật Bản.

Bà Lê Thị Bích Trâm (Cà Mau) hỏi, tiền lương chuyển về Việt Nam có phải chịu thêm phần thuế nào theo luật của Việt Nam không?

Vấn đề này, Thuế tỉnh Cà Mau có ý kiến như sau:

Theo Điều 4, Điều 5, Điều 6 Nghị định số 253/2026/NĐ-CP ngày 30/6/2026 của Chính phủ quy định chi tiết một số điều và biện pháp để tổ chức, hướng dẫn thi hành Luật Thuế thu nhập cá nhân:

"Điều 4. Cá nhân cư trú:

Cá nhân cư trú là cá nhân đáp ứng một trong các điều kiện theo quy định tại khoản 2 Điều 2 của Luật Thuế thu nhập cá nhân và được quy định chi tiết như sau:

1. Có mặt tại Việt Nam từ 183 ngày trở lên tính trong một năm dương lịch hoặc trong 12 tháng liên tục kể từ ngày đầu tiên có mặt tại Việt Nam. Trong đó, đối với cá nhân nhập cảnh, xuất cảnh, ngày đến được tính là một ngày, ngày đi được tính là một ngày, trường hợp nhập cảnh và xuất cảnh trong cùng một ngày thì được tính chung là một ngày cư trú. Ngày đến và ngày đi được căn cứ vào chứng thực của cơ quan quản lý xuất nhập cảnh trên hộ chiếu, giấy thông hành hoặc các tài liệu liên quan tới mục đích nhập cảnh, xuất cảnh của cá nhân khi đến và khi rời Việt Nam.

Cá nhân có mặt tại Việt Nam theo quy định tại khoản này là sự hiện diện của cá nhân đó trên lãnh thổ Việt Nam.

2. Có nơi ở thường xuyên tại Việt Nam theo một trong hai trường hợp sau:

a) Có nơi ở đăng ký thường trú, cụ thể như sau:

… ,.Đối với người nước ngoài: là nơi ở thường trú ghi trong Thẻ thường trú hoặc nơi ở tạm trú khai khi đề nghị đăng ký cấp Thẻ tạm trú do cơ quan có thẩm quyền thuộc Bộ Công an cấp;

b) Có nhà thuê để ở tại Việt Nam theo quy định của pháp luật về nhà ở, với thời hạn của các hợp đồng thuê từ 183 ngày trở lên trong năm tính thuế, cụ thể như sau:

Cá nhân chưa hoặc không có nơi ở thường xuyên theo hướng dẫn tại điểm a khoản này nhưng có tổng số ngày thuê nhà để ở theo các hợp đồng thuê từ 183 ngày trở lên trong năm tính thuế cũng được xác định là cá nhân cư trú, kể cả trường hợp thuê nhà ở nhiều nơi. Nhà thuê để ở bao gồm cả trường hợp ở khách sạn, ở nhà khách, nhà nghỉ, nhà trọ, ở nơi làm việc, ở trụ sở cơ quan không phân biệt cá nhân tự thuê hay người sử dụng lao động thuê cho người lao động.

3. Trường hợp cá nhân có nơi ở thường xuyên tại Việt Nam theo quy định tại khoản 2 Điều này nhưng thực tế có mặt tại Việt Nam dưới 183 ngày trong năm tính thuế mà cá nhân không chứng minh được là cá nhân cư trú của nước nào thì cá nhân đó là cá nhân cư trú tại Việt Nam.

Việc chứng minh là đối tượng cư trú của nước khác được căn cứ vào Giấy chứng nhận cư trú. Trường hợp cá nhân thuộc nước hoặc vùng lãnh thổ đã ký kết Hiệp định tránh đánh thuế hai lần và ngăn ngừa việc trốn lậu thuế với Việt Nam không có quy định cấp Giấy chứng nhận cư trú thì cá nhân cung cấp bản chụp Hộ chiếu để chứng minh thời gian cư trú.

Điều 5. Cá nhân không cư trú

Cá nhân không cư trú theo quy định tại khoản 3 Điều 2 của Luật Thuế thu nhập cá nhân là người không đáp ứng điều kiện quy định tại Điều 4 của Nghị định này.

Điều 6. Thu nhập chịu thuế

… 2. Phạm vi xác định thu nhập chịu thuế của cá nhân cư trú và không cư trú được quy định như sau:

a) Đối với cá nhân cư trú, thu nhập chịu thuế là thu nhập phát sinh trong và ngoài lãnh thổ Việt Nam, không phân biệt nơi trả và nhận thu nhập;

b) Đối với cá nhân không cư trú, thu nhập chịu thuế là thu nhập phát sinh trong lãnh thổ Việt Nam, không phân biệt nơi trả và nhận thu nhập.

Căn cứ vào quy định nêu trên và nội dung trình bày của bà Bích Trâm, việc xác định nghĩa vụ thuế thu nhập cá nhân (TNCN) tại Việt Nam đối với khoản tiền lương nhận được xác định cụ thể như sau:

Trường hợp người nước ngoài là cá nhân cư trú tại Việt Nam

Đối với thu nhập phát sinh trong và ngoài lãnh thổ Việt Nam, không phân biệt nơi chi trả và nhận thu nhập. Do đó, khoản tiền lương do công ty tại Nhật Bản chi trả cho người nước ngoài thuộc diện chịu thuế TNCN tại Việt Nam.

Người nộp thuế được khấu trừ số thuế thu nhập tại Nhật Bản vào số thuế TNCN phải nộp tại Việt Nam. Số thuế tối đa được khấu trừ tại Việt Nam không vượt quá số thuế TNCN tính theo biểu lũy tiến từng phần của Việt Nam phân bổ cho phần thu nhập phát sinh tại Nhật Bản.

Trường hợp số thuế phải nộp tại Việt Nam cao hơn số thuế đã nộp tại Nhật Bản, người nộp thuế phải nộp phần chênh lệch thiếu vào Ngân sách Nhà nước tại Việt Nam.

Trường hợp người nước ngoài là cá nhân không cư trú tại Việt Nam

Khoản thu nhập này không phải thu nhập chịu thuế TNCN tại Việt Nam. Việc tiền lương được chuyển về tài khoản mở tại Ngân hàng ở Việt Nam không làm phát sinh nghĩa vụ thuế TNCN đối với khoản thu nhập này.

Chinhphu.vn

 - Ảnh 1.
 - Ảnh 2.
 - Ảnh 3.
 - Ảnh 4.