Việt Nam có ngôi làng nói ngôn ngữ bí mật suốt 200 năm: Ra đời để giấu bí quyết nghề trước mặt khách, chỉ cách Hà Nội 40km

Admin
Được tạo ra từ nghề đóng cối xay tre, "Tõi Xưỡn" từng là "mật mã" giúp những người thợ giữ bí quyết nghề nghiệp và đến nay vẫn được xem là một di sản văn hóa hiếm có của Việt Nam.

Từng là "mật mã" của những người thợ đóng cối xay tre

Bên dòng sông Nhuệ, tại làng Đa Chất (xã Đại Xuyên, huyện Phú Xuyên cũ, nay thuộc Hà Nội), thỉnh thoảng người ta vẫn bắt gặp những cuộc trò chuyện mà người ngoài nghe chẳng hiểu nổi. Âm điệu vẫn là tiếng Việt, nhưng từ ngữ lại hoàn toàn xa lạ, khiến nhiều người ví von như đang nghe một thứ tiếng nước ngoài. Đó chính là "Tõi Xưỡn" - hệ thống tiếng lóng độc đáo chỉ người Đa Chất mới có thể sử dụng thành thạo.

Theo các tài liệu kiểm kê di sản văn hóa phi vật thể, tiếng lóng Đa Chất xuất hiện từ đầu thế kỷ XIX, gắn liền với nghề đóng cối xay tre - nghề từng nuôi sống cả ngôi làng suốt một thời gian dài trước khi máy xay xát ra đời.

Cối tre truyền thống của làng Đa Chất. Ảnh: Thanh Niên

Ngày ấy, những người thợ Đa Chất thường lặn lội lên các tỉnh miền núi như Hà Giang, Tuyên Quang, Yên Bái để đóng cối xay cho người dân. Mỗi chuyến đi kéo dài hàng tháng, chỉ có một vài người trong nhóm cùng hành nghề. Để giữ bí quyết kỹ thuật, trao đổi công việc, thống nhất giá cả hay cảnh báo nhau trước mặt khách mà không bị người ngoài hiểu được, họ đã sáng tạo nên một hệ thống ngôn ngữ riêng.

Trong lúc làm việc, nếu thợ phụ mắc lỗi, thợ cả chỉ cần nói: "Mày xấn táo rồi, bệt ngáo kìa" , nghĩa là "Mày làm sai rồi, chủ nhà đang nhìn đấy". Một câu nói vừa đủ để nhắc nhở đồng nghiệp, nhưng vẫn giữ thể diện cho người làm và không để gia chủ biết nội dung trao đổi.

Những di tích lịch sử ở làng Đa Chất. Ảnh sưu tầm

Không chỉ dùng trong nghề, tiếng lóng len vào mọi sinh hoạt hằng ngày

Theo thời gian, "Tõi Xưỡn" không còn chỉ xuất hiện trong các chuyến đi làm nghề mà dần trở thành một phần trong đời sống thường nhật của người dân Đa Chất.

Khi phát hiện kẻ gian ở nơi đông người, người làng sẽ hô: "Đồi ỏn ngáo bái" , nghĩa là "Cẩn thận cái túi, đề phòng kẻ gian". Có khách đến nhà, người chồng có thể dặn vợ: "Xì nhát sẩn du tớp sườn tóp đồ dồ" , tức "Em lấy xe đi chợ mua thức ăn đãi khách". Ngay cả việc dạy con cũng được diễn đạt bằng tiếng lóng: "Dươi xì xuộm. Gành thít thu" , nghĩa là "Chào các cụ, lấy nước mời khách đi con".

Đình Đa Chất

Tuy vậy, người Đa Chất có một quy ước bất thành văn: tiếng lóng chỉ được dùng trong công việc hoặc những tình huống cần sự tế nhị, tuyệt đối không sử dụng để nói xấu, chế giễu hay làm những việc khuất tất.

"Tõi Xưỡn" vẫn giữ ngữ pháp tiếng Việt nhưng thay thế gần như toàn bộ hệ thống từ vựng. Chẳng hạn, "choáng" có nghĩa là đẹp; "bệt choáng" là nhà đẹp; "nhát choáng" là cô gái xinh đẹp. Động từ "xấn" mang nghĩa dùng sức, có thể kết hợp thành nhiều cụm như "xấn vụ" (đóng cối), "xấn đìa" (làm ruộng). Hệ thống số đếm cũng khác biệt với các từ như nhất, nhị, thâm, chớ, dâu, lạp ...

Ngay cả trong thời hiện đại, người dân vẫn sáng tạo thêm nhiều từ mới để phù hợp với cuộc sống như "sưỡn mố" (xe máy), "sưỡn nhật" (đồng hồ), "sưỡn xì thiên" (máy bay).

Ông Nguyễn Văn Sớm, bậc cao niên thành thạo tiếng lóng nhất làng. Ảnh sưu tầm

Điều đặc biệt là thứ tiếng này gần như chỉ tồn tại trong phạm vi làng Đa Chất. Người gốc làng có thể nghe và nói thành thạo, trong khi người ngoài dù sống gần cũng rất khó hiểu được nội dung trò chuyện. Chính tính nội bộ ấy đã giúp "Tõi Xưỡn" trở thành một "tấm khiên" gìn giữ bản sắc của ngôi làng suốt hơn hai thế kỷ.

Di sản hơn 200 năm trước nguy cơ thất truyền

Sự xuất hiện của máy xay xát công nghiệp từ đầu những năm 2000 khiến nghề đóng cối xay tre dần biến mất. Khi nghề truyền thống không còn, môi trường sử dụng tiếng lóng cũng ngày càng thu hẹp.

Hiện nay, trong khoảng 1.500 nhân khẩu của làng, chỉ còn khoảng 40% có thể nói thành thạo "Tõi Xưỡn", phần lớn đều trên 50 tuổi. Nhiều cụ cao niên vẫn còn ghi nhớ vốn từ, nhưng tuổi cao, sức khỏe giảm sút khiến việc sử dụng tiếng lóng ngày càng ít. Trong khi đó, lớp trẻ đi học, đi làm xa, dù vẫn nghe hiểu nhưng hầu như không còn sử dụng thường xuyên.

Nhận thấy nguy cơ thất truyền, năm 2006, Bộ Văn hóa - Thông tin đã mời các bậc cao niên trong làng sưu tầm, hệ thống lại vốn từ để bảo tồn. Một năm sau, cuốn Văn hóa dân gian làng Đa Chất được xuất bản, ghi lại cách phát âm và ý nghĩa của hơn 200 từ lóng. Đến năm 2016, tiếng lóng Đa Chất được đưa vào danh mục Di sản văn hóa phi vật thể của Hà Nội.

Cuốn sách ghi chép về văn hoá làng Đa Chất và các từ lóng thông dụng. Ảnh sưu tầm

Sách ghi lại lịch sử và tiếng cổ của làng. Ảnh: Nhân Dân

Theo phiếu kiểm kê di sản văn hóa phi vật thể được địa phương cập nhật cuối năm 2025, "Tõi Xưỡn" có nguồn gốc từ đầu thế kỷ XIX, cùng thời kỳ phát triển của nghề đóng cối xay lúa từng được ghi chép trong Đại Nam nhất thống chí . Ban đầu chỉ là những thuật ngữ nghề nghiệp, về sau tiếng lóng dần mở rộng sang mọi mặt của đời sống.

Các chuyên gia ngôn ngữ cùng Sở Văn hóa và Thể thao Hà Nội nhiều lần khảo sát, đánh giá đây là một di sản ngôn ngữ quý hiếm, mang giá trị lịch sử và văn hóa đặc biệt, gần như không có trường hợp tương tự ở Việt Nam. Tuy nhiên, khi số người sử dụng ngày càng ít, đặc biệt chủ yếu là các bậc cao niên, việc gìn giữ và truyền lại "Tõi Xưỡn" cho thế hệ sau đang trở thành nỗi trăn trở lớn của người dân Đa Chất cũng như những người làm công tác bảo tồn văn hóa.