Chỉ đạo, điều hành của Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ ngày 23/9/2026

Văn phòng Chính phủ vừa có Thông cáo báo chí chỉ đạo, điều hành của Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ ngày 23/9/2026.

Giải quyết dứt điểm tình trạng thiếu sách giáo khoa trước 25/9

Kết luận của Thủ tướng Chính phủ tại cuộc họp về cung ứng sách giáo khoa, rà soát chương trình, sách giáo khoa giáo dục phổ thông, một số vấn đề trọng tâm trong lĩnh vực giáo dục, đào tạo và chuẩn bị phục vụ Đoàn giám sát chuyên đề thực hiện Nghị quyết số 71-NQ/TW của Bộ Chính trị về đột phá phát triển giáo dục và đào tạo

Văn phòng Chính phủ vừa ban hành Thông báo số 494/TB-VPCP ngày 22/9/2026 kết luận của Thủ tướng Chính phủ tại cuộc họp về cung ứng sách giáo khoa, rà soát chương trình, sách giáo khoa giáo dục phổ thông, một số vấn đề trọng tâm trong lĩnh vực giáo dục, đào tạo và chuẩn bị phục vụ Đoàn giám sát chuyên đề thực hiện Nghị quyết số 71-NQ/TW của Bộ Chính trị về đột phá phát triển giáo dục và đào tạo.

Tại Thông báo trên, Thủ tướng Chính phủ Lê Minh Hưng yêu cầu Bộ Giáo dục và Đào tạo nghiêm túc tiếp thu ý kiến tại cuộc họp, tập trung triển khai thực hiện ngay các nhiệm vụ, giải pháp cấp thiết về cung ứng sách giáo khoa; rà soát, hoàn thiện chương trình, sách giáo khoa phổ thông, giải quyết một số vấn đề trọng tâm trong lĩnh vực giáo dục, đào tạo và chuẩn bị phục vụ Đoàn giám sát chuyên đề thực hiện Nghị quyết số 71-NQ/TW.

Giải quyết dứt điểm tình trạng thiếu sách giáo khoa trước 25/9

Về cung ứng sách giáo khoa năm học 2026-2027, Thủ tướng khẳng định năm học 2026-2027 là năm đầu tiên triển khai một bộ sách giáo khoa thống nhất trên toàn quốc theo tinh thần Nghị quyết số 71-NQ/TW. Việc đảm bảo đủ sách giáo khoa trước năm học mới đã được Bộ Chính trị, đồng chí Tổng Bí thư, Chủ tịch nước, Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ, Phó Thủ tướng Chính phủ chủ động chỉ đạo quyết liệt và toàn diện. Tuy nhiên, khi bước vào năm học mới, vẫn còn tình trạng nhiều học sinh, cơ sở giáo dục phổ thông ở một số địa phương chưa có đủ sách giáo khoa (đến ngày 20 tháng 9 năm 2026 vẫn còn thiếu trên 776 nghìn bản sách giáo khoa).

Những hạn chế, bất cập trong tổng hợp nhu cầu, dự báo, đặt hàng, xuất bản, dự trữ, điều phối, phân phối dẫn đến tình trạng thiếu sách giáo khoa có cả nguyên nhân khách quan và chủ quan từ Bộ Giáo dục và Đào tạo, các địa phương và cơ sở giáo dục, trong đó nguyên nhân chủ quan là chủ yếu, đặc biệt là công tác dự báo nhu cầu, cung ứng sách giáo khoa của Bộ Giáo dục và Đào tạo vẫn theo cách làm cũ, chưa đổi mới, chưa quyết liệt, kịp thời, hiệu quả.

Thủ tướng Chính phủ yêu cầu Bộ Giáo dục và Đào tạo nghiêm túc rút kinh nghiệm, có ngay các biện pháp cấp bách, chấn chỉnh kịp thời, bảo đảm cung ứng đủ sách giáo khoa trong thời gian sớm nhất; đồng thời không để tái diễn việc thiếu sách giáo khoa trong những năm học tiếp theo.

Thủ tướng Chính phủ yêu cầu Bộ trưởng Bộ Giáo dục và Đào tạo tập trung chỉ đạo, chịu trách nhiệm trực tiếp trước Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ về việc áp dụng các biện pháp cấp bách giải quyết dứt điểm tình trạng thiếu sách giáo khoa cho năm học 2026-2027 trong thời gian ngắn nhất, hoàn thành trước ngày 25 tháng 9 năm 2026; trong đó lưu ý thực hiện rà soát, xác nhận đến từng cơ sở giáo dục, từng nhà trường để bảo đảm cung ứng đầy đủ sách giáo khoa cho từng học sinh; tuyệt đối không để tiếp diễn tình trạng học sinh đi học mà không có sách giáo khoa, nhất là tại các địa phương hiện đang còn thiếu nhiều sách giáo khoa như: Lâm Đồng, Đồng Nai, Ninh Bình, Phú Thọ, Khánh Hoà, Cần Thơ, Đắk Lắk... Trường hợp cần thiết, chỉ định các đơn vị có năng lực tham gia in ấn sách giáo khoa.

Nghiêm túc kiểm điểm các tổ chức, cá nhân liên quan trong việc cung ứng không đủ sách giáo khoa

Bộ Giáo dục và Đào tạo khẩn trương chỉ đạo, hướng dẫn các địa phương, các cơ sở giáo dục còn thiếu sách giáo khoa thực hiện ngay các giải pháp phù hợp hỗ trợ học tập cho học sinh không để ảnh hưởng đến chất lượng dạy và học theo quy định; nghiên cứu, tăng cường việc sử dụng sách điện tử; đồng thời cập nhật thường xuyên tình hình, xử lý kịp thời các vấn đề phát sinh liên quan đến sách giáo khoa, dạy và học của tất cả các cơ sở giáo dục, nhà trường trên toàn quốc.

Bộ trưởng Bộ Giáo dục và Đào tạo chỉ đạo nghiêm túc kiểm điểm, làm rõ trách nhiệm của các tổ chức, đơn vị, cá nhân liên quan và xử lý nghiêm theo quy định trong việc cung ứng không đầy đủ sách giáo khoa phục vụ học sinh vào đầu năm học mới 2026-2027 theo chỉ đạo của Bộ Chính trị, đồng chí Tổng Bí thư, Chủ tịch nước, Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ, báo cáo Thủ tướng Chính phủ tình hình và kết quả trước ngày 10 tháng 10 năm 2026.

Kiểm soát chặt chẽ chất lượng bữa ăn học đường

Về bảo đảm chất lượng, an toàn bữa ăn học đường, Thủ tướng Chính phủ yêu cầu Bộ Giáo dục và Đào tạo chủ trì, phối hợp với các cơ quan liên quan, các địa phương triển khai ngay các biện pháp cần thiết bảo đảm chất lượng, vệ sinh an toàn thực phẩm bữa ăn học đường theo Chỉ thị số 33/CT-TTg ngày 14 tháng 8 năm 2026 của Thủ tướng Chính phủ về tăng cường bảo đảm an toàn thực phẩm trong cơ sở giáo dục; xác định rõ trách nhiệm của Bộ Giáo dục và Đào tạo, các cơ quan liên quan, nhất là của chính quyền địa phương các cấp và các cơ sở giáo dục, bảo đảm công khai, minh bạch, kiểm soát chặt chẽ chất lượng bữa ăn; tuyệt đối không để xảy ra mất an toàn thực phẩm, cắt xén khẩu phần, tham nhũng, lãng phí, tiêu cực.

Bộ Tài chính chủ trì, phối hợp với các cơ quan liên quan triển khai ngay việc đề xuất cấp có thẩm quyền miễn thuế thu nhập doanh nghiệp cho các doanh nghiệp cung cấp suất ăn cho các cơ sở giáo dục.

Xử lý các vướng mắc trong sắp xếp cơ sở giáo dục mầm non, phổ thông ở các địa phương

Về rà soát, sắp xếp cơ sở giáo dục mầm non, phổ thông ở các địa phương, Thủ tướng Chính phủ yêu cầu Bộ Giáo dục và Đào tạo khẩn trương rà soát, tổng hợp, tổ chức họp trực tuyến với các địa phương, xác định rõ những hạn chế, bất cập, chủ động có giải pháp xử lý các vướng mắc theo thẩm quyền và đề xuất, kiến nghị cụ thể, tổng hợp báo cáo cáo Thủ tướng Chính phủ trước ngày 05 tháng 10 năm 2026.

Về rà soát, hoàn thiện Chương trình, sách giáo khoa giáo dục phổ thông, Bộ Giáo dục và Đào tạo chủ trì, phối hợp với các cơ quan liên quan tập trung xây dựng kế hoạch rà soát, hoàn thiện Chương trình, sách giáo khoa giáo dục phổ thông, phân công nhiệm vụ với lộ trình cụ thể để hoàn thành bộ sách giáo khoa giáo dục phổ thông mới sử dụng thống nhất trong toàn quốc từ năm học 2028-2029, bảo đảm chất lượng, đáp ứng yêu cầu đề ra, góp phần nâng cao hiệu quả dạy và học thực chất; báo cáo Thủ tướng Chính phủ, Phó Thủ tướng Chính phủ trong tháng 10 năm 2026.

Nghiên cứu đổi mới phương pháp dạy và học, kiểm tra đánh giá, thi, tuyển sinh

Trong đó, Thủ tướng Chính phủ lưu ý cần xác định rõ các hạn chế, bất cập, khó khăn, vướng mắc trong nội dung và triển khai thực hiện Chương trình giáo dục phổ thông và bộ sách giáo khoa hiện nay; rà soát kỹ, hoàn thiện Chương trình giáo dục phổ theo hướng giảm tải, lấy giáo dục phổ thông làm nền tảng, đảm bảo mọi học sinh đều được học tập, trang bị đầy đủ kiến thức, kỹ năng, phẩm chất và năng lực cần thiết, chú trọng giáo dục đạo đức, nhân cách, lòng yêu nước, ý thức trách nhiệm, khát vọng cống hiến; bổ sung nội dung về các nhân vật lịch sử, tiền bối cách mạng, giá trị lịch sử, văn hóa, truyền thống dân tộc; rà soát các vấn đề về tác giả, chủ biên, bản quyền; trên cơ sở đó, hoàn thiện bộ sách giáo khoa theo hướng thiết thực, hiệu quả, phù hợp với tình hình và yêu cầu thực tiễn, kịp thời điều chỉnh những bất cập theo đúng chỉ đạo của đồng chí Tổng Bí thư, Chủ tịch nước tại Thông báo số 160-TB/VPTW ngày 29 tháng 8 năm 2026 của Văn phòng Trung ương Đảng và chỉ đạo của Thủ tướng Chính phủ tại Thông báo kết luận số 456/TB-VPCP ngày 29 tháng 8 năm 2026 của Văn phòng Chính phủ.

Yêu cầu đặt ra đối với việc rà soát, hoàn thiện Chương trình, sách giáo khoa giáo dục phổ thông là bảo đảm phù hợp với đặc điểm, điều kiện, trình độ phát triển kinh tế - xã hội, đáp ứng yêu cầu thực tiễn dạy và học của giáo viên, học sinh ở các vùng, miền; không để có nhiều kiến thức chuyên sâu, gây áp lực cho công tác dạy và học, không thực sự cần thiết đối với mặt bằng giáo dục phổ thông (kiến thức chuyên sâu dành cho tài liệu tham khảo, nâng cao của các môn học); đồng thời góp phần giảm áp lực thi cử, tuyển sinh. Trong quá trình thực hiện, Bộ Giáo dục và Đào tạo phải cầu thị, lắng nghe ý kiến của đội ngũ giáo viên, học sinh, cha mẹ học sinh, các tầng lớp nhân dân, nhất là các chuyên gia, nhà khoa học, nhà giáo đang trực tiếp giảng dạy để hoàn thiện.

Cùng với việc rà soát Chương trình, sách giáo khoa giáo dục phổ thông, Thủ tướng Chính phủ yêu cầu Bộ Giáo dục và Đào tạo tiếp tục nghiên cứu đổi mới phương pháp dạy và học, kiểm tra đánh giá, thi, tuyển sinh trên cơ sở đánh giá đầy đủ các yếu tố tác động, ảnh hưởng và có lộ trình thực hiện phù hợp, đảm bảo đánh giá đúng thực chất chất lượng dạy và học, trình độ của người học và công bằng trong thi cử.

Phấn đấu cung ứng miễn phí sách giáo khoa cho tất cả học sinh từ năm học 2028-2029

Bộ Giáo dục và Đào tạo chủ trì, phối hợp với các bộ, cơ quan liên quan, các địa phương khẩn trương nghiên cứu, đổi mới mạnh mẽ công tác biên soạn, xuất bản, phát hành, cung ứng sách giáo khoa; trong đó bản quyền sách giáo khoa phải được xác định là tài sản của Nhà nước, do Bộ Giáo dục và Đào tạo chỉ đạo biên soạn, chịu trách nhiệm về nội dung và giữ bản quyền, được phát hành miễn phí cho tất cả học sinh theo lộ trình quy định; đồng thời tập trung rà soát công tác phát hành, cung ứng, cắt giảm khâu trung gian; nghiên cứu việc giao các địa phương chịu trách nhiệm in ấn, phát hành sách giáo khoa, bảo đảm tiết giảm chi phí, tiết kiệm ngân sách nhà nước và tiền mua sách giáo khoa của học sinh.

Đồng thời, Bộ Giáo dục và Đào tạo đẩy nhanh tiến trình hoàn thiện hệ thống cơ sở dữ liệu của ngành Giáo dục, chủ động kết nối với cơ sở dữ liệu dân cư của Bộ Công an để xác định cụ thể nhu cầu, số lượng học sinh từng cấp học, lớp học, từng cơ sở giáo dục để phục vụ công tác xác định nhu cầu, bảo đảm phân phối kịp thời, đầy đủ sách giáo khoa; đồng thời cung cấp số liệu cụ thể và phối hợp chặt chẽ với Bộ Tài chính, làm việc trực tiếp với các địa phương để đánh giá, xác định dự toán kinh phí đề xuất cấp có thẩm quyền bố trí ngân sách nhà nước thực hiện chủ trương đầu tư bảo đảm đầy đủ trường lớp; đề xuất xây trường ở khu vực khó khăn, vùng bãi ngang, ven biển và hải đảo; bảo đảm trang thiết bị phục vụ dạy và học, bố trí đủ giáo viên và phấn đấu triển khai cung ứng miễn phí sách giáo khoa cho tất cả học sinh từ năm học 2028-2029, góp phần tạo thuận lợi cho việc nâng cao chất lượng dạy và học theo đúng tinh thần Nghị quyết số 71-NQ/TW.

Bộ Giáo dục và Đào tạo chủ trì, phối hợp với các cơ quan liên quan, các địa phương tập trung thực hiện tốt công tác thông tin truyền thông, nhất là các cơ chế, chính sách, quy định mới liên quan đến các hoạt động dạy và học, bảo đảm vệ sinh, an toàn trường học, công khai, minh bạch việc xử lý, giải quyết những khó khăn, vướng mắc và những vấn đề liên quan; đồng thời làm tốt công tác cán bộ, rà soát, bố trí, luân chuyển, điều động cán bộ phù hợp, bảo đảm đáp ứng yêu cầu nhiệm vụ; thực hiện tốt các chế độ, chính sách cho giáo viên, học sinh theo quy định...

Quy định xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực dữ liệu

Quy định xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực dữ liệu

Phó Thủ tướng Chính phủ Hồ Quốc Dũng thay mặt Chính phủ ký Nghị định số 363/2026/NĐ-CP quy định xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực dữ liệu.

Nghị định 363/2026/NĐ-CP quy định về hành vi vi phạm hành chính, hình thức xử phạt, mức xử phạt, việc thi hành các hình thức xử phạt vi phạm hành chính, các biện pháp khắc phục hậu quả đối với từng hành vi vi phạm hành chính, đối tượng bị xử phạt, thẩm quyền lập biên bản, thẩm quyền xử phạt, áp dụng biện pháp khắc phục hậu quả, mức phạt tiền cụ thể theo từng chức danh đối với hành vi vi phạm hành chính trong lĩnh vực dữ liệu.

Nghị định này không điều chỉnh các hành vi vi phạm hành chính thuộc phạm vi điều chỉnh của Nghị định quy định xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực an ninh mạng và bảo vệ dữ liệu cá nhân.

Đối tượng áp dụng

1. Cơ quan, tổ chức, cá nhân Việt Nam; cơ quan, tổ chức, cá nhân nước ngoài tại Việt Nam và cơ quan, tổ chức, cá nhân nước ngoài trực tiếp tham gia hoặc có liên quan đến hoạt động dữ liệu tại Việt Nam có hành vi vi phạm hành chính quy định tại Nghị định này.

2. Tổ chức bị xử phạt vi phạm hành chính theo quy định tại Nghị định này bao gồm:

a) Cơ quan nhà nước có hành vi vi phạm mà hành vi đó không thuộc nhiệm vụ quản lý nhà nước được giao;

b) Tổ chức được thành lập theo quy định của Luật Doanh nghiệp, Luật Hợp tác xã;

c) Tổ chức được thành lập theo quy định của Luật Các tổ chức tín dụng, Luật Đầu tư;

d) Đơn vị sự nghiệp công lập;

đ) Các tổ chức khác được thành lập theo quy định của pháp luật.

3. Hộ kinh doanh, hộ gia đình, cộng đồng dân cư vi phạm hành chính bị áp dụng mức phạt tiền đối với cá nhân vi phạm hành chính. Người đại diện của hộ kinh doanh, chủ hộ của hộ gia đình, người đứng đầu của cộng đồng dân cư chịu trách nhiệm thực hiện các quyết định xử phạt vi phạm hành chính theo quy định của pháp luật.

4. Cơ quan, người có thẩm quyền lập biên bản vi phạm hành chính, người có thẩm quyền xử phạt vi phạm hành chính và áp dụng biện pháp khắc phục hậu quả trong lĩnh vực dữ liệu theo quy định tại Nghị định này.

5. Cán bộ, công chức, viên chức, người thuộc lực lượng Quân đội nhân dân, Công an nhân dân và người làm công tác cơ yếu thực hiện hành vi vi phạm khi đang thi hành công vụ, nhiệm vụ và hành vi vi phạm đó thuộc công vụ, nhiệm vụ thì không bị xử phạt theo quy định của pháp luật về xử lý vi phạm hành chính mà bị xử lý theo quy định của pháp luật có liên quan.

Cơ quan nhà nước thực hiện hành vi vi phạm thuộc nhiệm vụ quản lý nhà nước thì không bị xử phạt theo quy định của pháp luật về xử lý vi phạm hành chính mà bị xử lý theo quy định của pháp luật có liên quan.

Hình thức xử phạt

Hình thức xử phạt chính trong lĩnh vực dữ liệu bao gồm: Cảnh cáo; phạt tiền.

Tùy theo tính chất, mức độ vi phạm, tổ chức, cá nhân có hành vi vi phạm hành chính còn bị áp dụng các hình thức xử phạt như: Tước quyền sử dụng giấy phép, chứng chỉ hành nghề; tịch thu tang vật, phương tiện vi phạm; đình chỉ hoạt động cung cấp, xử lý, kết nối dữ liệu có thời hạn; đình chỉ hoạt động quản trị, vận hành cơ sở/sàn dữ liệu có thời hạn, hoạt động tham gia chương trình, dự án do Quỹ phát triển dữ liệu hỗ trợ có thời hạn; trục xuất đối với người nước ngoài có hành vi vi phạm hành chính…

Mức phạt tiền tối đa đối với hành vi vi phạm hành chính trong lĩnh vực dữ liệu đối với cá nhân là 100 triệu đồng.

Phạt đến 60 triệu đồng đối với hành vi giả mạo, làm hư hỏng dữ liệu trong cơ sở dữ liệu Nhà nước

Điều 7 của Nghị định quy định xử lý đối với các hành vi bị nghiêm cấm trong lĩnh vực dữ liệu như sau:

1. Phạt tiền từ 40-60 triệu đồng đối với một trong những hành vi sau đây:

a) Giả mạo, cố ý làm sai lệch, làm mất, làm hư hỏng dữ liệu trong cơ sở dữ liệu của cơ quan Đảng, Nhà nước, Ủy ban Mặt trận Tổ quốc Việt Nam nhưng chưa đến mức truy cứu trách nhiệm hình sự;

b) Cố ý cung cấp dữ liệu sai lệch hoặc không cung cấp dữ liệu theo yêu cầu hợp pháp của cơ quan, người có thẩm quyền; trừ trường hợp quy định tại Điều 16 Nghị định này.

2. Phạt tiền từ 60-80 triệu đồng đối với một trong những hành vi sau đây:

a) Cản trở hoặc ngăn chặn trái pháp luật quá trình xử lý dữ liệu, quản trị dữ liệu của cơ quan, tổ chức, người có thẩm quyền theo quy định của pháp luật;

b) Tấn công, chiếm đoạt, phá hoại cơ sở dữ liệu, hệ thống thông tin phục vụ quản lý, xử lý, quản trị, bảo vệ dữ liệu nhưng chưa đến mức truy cứu trách nhiệm hình sự.

3. Hình thức xử phạt bổ sung

Tịch thu tang vật, phương tiện vi phạm hành chính đối với hành vi vi phạm quy định tại điểm b khoản 2 Điều này.

4. Biện pháp khắc phục hậu quả

a) Buộc khôi phục dữ liệu, cơ sở dữ liệu hoặc tình trạng ban đầu của dữ liệu đối với hành vi vi phạm quy định tại điểm a khoản 1 và điểm b khoản 2 Điều này;

b) Buộc áp dụng biện pháp kỹ thuật để bảo đảm an toàn, an ninh dữ liệu theo quy định của pháp luật đối với hành vi vi phạm quy định tại điểm b khoản 2 Điều này;

c) Buộc thông báo về sự cố dữ liệu, hậu quả xảy ra và kết quả khắc phục đến chủ thể dữ liệu và tổ chức, cá nhân khác có liên quan đối với hành vi vi phạm quy định tại điểm b khoản 2 Điều này;

d) Buộc gỡ bỏ ứng dụng, phần mềm được sử dụng để thực hiện hành vi vi phạm quy định tại khoản 2 Điều này.

Phạt đến 40 triệu đồng đối với hành vi thu thập, tạo lập dữ liệu không được chủ sở hữu cho phép

Đối với các hành vi vi phạm quy định về thu thập, tạo lập dữ liệu, Điều 8 Nghị định quy định mức xử phạt như sau:

1. Phạt tiền từ 20-40 triệu đồng đối với một trong những hành vi sau đây:

a) Thu thập, tạo lập dữ liệu mà không được sự đồng ý của chủ thể dữ liệu hoặc chủ sở hữu dữ liệu theo quy định của pháp luật;

b) Không ban hành quy trình thu thập, tạo lập dữ liệu hoặc không thực hiện việc đánh giá, áp dụng các biện pháp bảo vệ dữ liệu trước khi tiến hành thu thập, tạo lập dữ liệu;

c) Không thực hiện việc kiểm tra tính xác thực, bảo đảm chất lượng dữ liệu trong quá trình thu thập, tạo lập dữ liệu.

2. Phạt tiền từ 40-60 triệu đồng đối với một trong những hành vi sau đây:

a) Cố ý thu thập, tạo lập dữ liệu không đúng với dữ liệu gốc;

b) Cố ý thu thập, tạo lập dữ liệu giả mạo;

c) Thu thập, tạo lập dữ liệu vượt quá phạm vi, mục đích đã thông báo;

d) Hành vi vi phạm tại khoản 1 Điều này mà dữ liệu thuộc danh mục dữ liệu cốt lõi, dữ liệu quan trọng quốc gia;

đ) Hành vi vi phạm tại khoản 1 Điều này làm rò rỉ thông tin nhạy cảm, làm ảnh hưởng đến quyền, lợi ích hợp pháp của tổ chức, cá nhân hoặc an ninh quốc gia.

3. Hình thức xử phạt bổ sung

a) Tịch thu tang vật, phương tiện vi phạm hành chính đối với hành vi vi phạm quy định tại điểm a khoản 1 và điểm a, điểm b, điểm c khoản 2 Điều này;

b) Đình chỉ hoạt động quản trị, vận hành cơ sở dữ liệu từ 06 tháng đến 09 tháng đối với hành vi vi phạm quy định tại điểm d, điểm đ khoản 2 Điều này.

4. Biện pháp khắc phục hậu quả

a) Buộc ban hành quy trình thu thập, tạo lập dữ liệu đối với hành vi vi phạm quy định tại điểm b khoản 1 Điều này;

b) Buộc xóa, tiêu hủy dữ liệu đã được thu thập, tạo lập trái quy định đối với hành vi vi phạm quy định tại điểm a khoản 1 và điểm a, điểm b, điểm c khoản 2 Điều này;

c) Buộc đính chính, hiệu chỉnh, cập nhật dữ liệu được tạo lập sai lệch, giả mạo đối với hành vi vi phạm quy định tại điểm a, điểm b khoản 2 Điều này;

d) Buộc áp dụng biện pháp bảo vệ dữ liệu, an toàn dữ liệu đối với hành vi vi phạm quy định tại điểm b khoản 1 Điều này;

đ) Buộc nộp lại số lợi bất hợp pháp có được do thực hiện hành vi vi phạm quy định tại điểm a khoản 1 và điểm a, điểm b, điểm c khoản 2 Điều này.

Nghị định này có hiệu lực thi hành kể từ ngày 11/11/2026.

Kế hoạch hành động của Chính phủ thực hiện Kết luận số 51-KL/TW ngày 17/6/2026 của Bộ Chính trị về đẩy mạnh công tác sở hữu trí tuệ phục vụ phát triển kinh tế - xã hội trong tình hình mới

Thay mặt Chính phủ, Phó Thủ tướng Hồ Quốc Dũng ký Nghị quyết số 282/NQ-CP ngày 22/9/2026 ban hành Kế hoạch hành động của Chính phủ thực hiện Kết luận số 51-KL/TW ngày 17/6/2026 của Bộ Chính trị về đẩy mạnh công tác sở hữu trí tuệ phục vụ phát triển kinh tế - xã hội trong tình hình mới.

Căn cứ Kết luận số 51-KL/TW ngày 17/6/2026 của Bộ Chính trị về đẩy mạnh công tác sở hữu trí tuệ phục vụ phát triển kinh tế - xã hội trong tình hình mới, Chính phủ đã ban hành Kế hoạch hành động thực hiện Kết luận số 51-KL/TW nhằm cụ thể hóa các quan điểm, tổ chức thực hiện đầy đủ, đồng bộ, nhất quán các nhiệm vụ nêu tại Kết luận số 51-KL/TW.

Đồng thời, xác định rõ nhiệm vụ và sản phẩm cụ thể, trách nhiệm của bộ, cơ quan liên quan, địa phương, làm căn cứ để các bộ, cơ quan liên quan, địa phương tổ chức triển khai, thực hiện, kiểm tra, giám sát và đánh giá kết quả thực hiện Kết luận số 51-KL/TW đảm bảo hiện thực hóa mục tiêu đưa sở hữu trí tuệ thành yếu tố cốt lõi để tự chủ chiến lược và cạnh tranh thương mại quốc tế, góp phần bảo vệ an ninh và nâng cao vị thế quốc gia trong tình hình mới.

Nâng cao nhận thức, trách nhiệm, quyết tâm của các bộ, cơ quan liên quan, địa phương, cơ quan, tổ chức, đơn vị nhất là người đứng đầu trong việc thực hiện Kết luận số 51-KL/TW, phấn đấu thực hiện tốt các nhiệm vụ, giải pháp đã đề ra tại Kết luận số 51-KL/TW.

Theo đó, nhiệm vụ ưu tiên triển khai Kế hoạch hành động gồm:

Quán triệt, nâng cao nhận thức về vai trò chiến lược của sở hữu trí tuệ, xây dựng văn hóa tôn trọng sáng tạo:

Tổ chức quán triệt, phổ biến nội dung Nghị quyết và các chủ trương của Đảng, chính sách, pháp luật về sở hữu trí tuệ; nghiên cứu, xây dựng lộ trình lồng ghép nội dung về sở hữu trí tuệ vào chương trình giáo dục phổ thông, giáo dục nghề nghiệp và giáo dục đại học; tăng cường kiểm soát tình trạng sao chép, đạo văn trong học thuật trong các cơ sở giáo dục, đặc biệt là cơ sở giáo dục đại học; xây dựng và triển khai Chương trình nâng cao năng lực sở hữu trí tuệ trong hệ thống các cơ sở giáo dục đại học...

Hoàn thiện thể chế, hệ thống pháp luật sở hữu trí tuệ hiện đại, đồng bộ:

Nghiên cứu, đề xuất sửa đổi, bổ sung Luật Sở hữu trí tuệ và văn bản pháp luật có liên quan; rà soát, đề xuất sửa đổi các quy định pháp luật dân sự về giao dịch bảo đảm đối với quyền sở hữu trí tuệ nhằm tạo thuận lợi cho việc huy động vốn, đầu tư, góp vốn và phát triển doanh nghiệp trên cơ sở được bảo đảm bằng quyền sở hữu trí tuệ; nghiên cứu, đề xuất sửa đổi, bổ sung quy định về thủ tục tố tụng rút gọn hoặc thủ tục đặc thù cho các vụ việc liên quan đến sở hữu trí tuệ, nâng cao hiệu quả của công tác bảo vệ quyền sở hữu trí tuệ bằng biện pháp dân sự...

Thúc đẩy sự phát triển đồng bộ của hệ sinh thái sở hữu trí tuệ, trong đó chú trọng phát triển thị trường quyền sở hữu trí tuệ, nâng cao năng lực sở hữu trí tuệ của doanh nghiệp:

Xây dựng, trình ban hành và tổ chức triển khai chương trình quốc gia về phát triển sở hữu trí tuệ nhằm nâng cao năng lực sở hữu trí tuệ quốc gia; rà soát cơ chế định giá quyền sở hữu trí tuệ, đề xuất các giải pháp để tạo thuận lợi cho hoạt động thương mại hóa quyền sở hữu trí tuệ...

Tăng cường và nâng cao hiệu quả công tác bảo vệ quyền sở hữu trí tuệ, đặc biệt là trên môi trường số:

Ứng dụng công nghệ có chức năng giám sát, tự động phát hiện và cảnh báo sớm các hành vi xâm phạm quyền sở hữu trí tuệ trên môi trường số; tăng cường kiểm tra việc chấp hành pháp luật về sở hữu trí tuệ trong cơ quan nhà nước, doanh nghiệp, cơ sở giáo dục; kịp thời phát hiện, kiến nghị xử lý hoặc chuyển cơ quan có thẩm quyền xử lý các hành vi vi phạm theo quy định của pháp luật; nghiên cứu, đề xuất xây dựng cơ chế tài phán chuyên sâu về sở hữu trí tuệ nhằm nâng cao tính chuyên nghiệp, hiệu quả trong giải quyết các tranh chấp...

Nâng cao hiệu lực, hiệu quả quản lý nhà nước về sở hữu trí tuệ:

Xây dựng Đề án kiện toàn mô hình tổ chức cơ quan quản lý nhà nước về sở hữu trí tuệ theo hướng tập trung, thống nhất hiệu lực, hiệu quả và hiện đại; xây dựng đề án phát triển nguồn nhân lực chất lượng cao trong lĩnh vực sở hữu trí tuệ; đầu tư hiện đại hóa hạ tầng công nghệ thông tin và xây dựng cơ sở dữ liệu chuyên ngành về sở hữu trí tuệ...

Bảo đảm an ninh quốc gia về công nghệ, dữ liệu và bí mật kinh doanh:

Triển khai việc kiểm soát, phòng ngừa, ngăn chặn việc chuyển giao công nghệ trái phép ra nước ngoài; nâng cao vai trò công tác kiểm soát rủi ro trong sở hữu trí tuệ; thực hiện kiểm soát, cảnh báo và kịp thời phát hiện các đối tượng có dấu hiệu gian lận về sở hữu trí tuệ xuyên biên giới.

Đẩy mạnh hội nhập quốc tế sâu rộng, có chọn lọc về sở hữu trí tuệ:

Để đẩy mạnh hội nhập quốc tế sâu rộng, có chọn lọc về sở hữu trí tuệ, các bộ, cơ quan liên quan và địa phương xây dựng đề án hội nhập quốc tế về sở hữu trí tuệ.

Chấm dứt hiệu lực Quyết định 241/QĐ-TTg phê duyệt kế hoạch phân loại đô thị toàn quốc giai đoạn 2021-2030

Chấm dứt hiệu lực Quyết định 241/QĐ-TTg phê duyệt kế hoạch phân loại đô thị toàn quốc giai đoạn 2021-2030

Phó Thủ tướng Thường trực Chính phủ Phạm Gia Túc ký Quyết định số 1832/QĐ-TTg ngày 22/9/2026 của Thủ tướng Chính phủ về việc chấm dứt hiệu lực thi hành của Quyết định số 241/QĐ-TTg ngày 24/2/2021 phê duyệt kế hoạch phân loại đô thị toàn quốc giai đoạn 2021-2030 và sửa đổi Quyết định số 891/QĐ-TTg ngày 22/8/2024 phê duyệt Quy hoạch hệ thống đô thị và nông thôn thời kỳ 2021-2030, tầm nhìn đến năm 2050.

Theo Quyết định số 1832/QĐ-TTg, Thủ tướng Chính phủ quyết định chấm dứt toàn bộ hiệu lực thi hành của Quyết định số 241/QĐ-TTg ngày 24/02/2021 về kế hoạch phân loại đô thị toàn quốc giai đoạn 2021–2030.

Đồng thời, bỏ nhiệm vụ "rà soát, cập nhật, sửa đổi bổ sung Quyết định số 241/QĐ-TTg" trước đó đã được giao cho Bộ Xây dựng tại Quyết định số 891/QĐ-TTg ngày 22/8/2024 về Quy hoạch hệ thống đô thị và nông thôn thời kỳ 2021-2030, tầm nhìn đến năm 2050.

Căn cứ pháp lý ban hành Quyết định số 241/QĐ-TTg đã thay đổi, nhiều nội dung không còn phù hợp

Tại Tờ trình số 87/TTr-BXD ngày 18/8/2026, Bộ Xây dựng cho biết các căn cứ để ban hành Quyết định số 241/QĐ-TTg đã có sự thay đổi căn bản; nhiều nội dung của Quyết định đã được thực hiện, hoàn thành hoặc không còn phù hợp với hệ thống pháp luật, hệ thống quy hoạch và mô hình tổ chức chính quyền địa phương hiện nay.

Việc Quyết định số 241/QĐ-TTg hết hiệu lực không làm gián đoạn công tác quản lý nhà nước về phân loại đô thị, vì công tác này hiện đã được điều chỉnh trực tiếp bởi Luật Quy hoạch đô thị và nông thôn, Nghị quyết của Ủy ban Thường vụ Quốc hội về phân loại đô thị, hệ thống quy hoạch và các văn bản hướng dẫn thi hành.

Theo Nghị quyết số 202/2025/QH15 được Quốc hội thông qua ngày 12/6/2025, cả nước đã thực hiện sắp xếp đơn vị hành chính cấp tỉnh và cấp xã, giảm từ 63 đơn vị hành chính cấp tỉnh xuống còn 34 đơn vị hành chính cấp tỉnh. Việc thay đổi địa giới hành chính cấp tỉnh làm cho danh mục đô thị được xác định theo từng địa phương tại Quyết định số 241/QĐ-TTg không còn phù hợp.

Bên cạnh đó, việc triển khai mô hình chính quyền địa phương hai cấp đã làm thay đổi mô hình tổ chức quản lý và phạm vi quản lý đô thị. Theo đó, không còn đơn vị hành chính cấp huyện và thị trấn, dẫn đến nhiều nội dung về đối tượng, phạm vi và lộ trình phân loại đô thị trong Quyết định số 241/QĐ-TTg cũng không còn phù hợp với thực tiễn quản lý.

Thay đổi cấu trúc đô thị từ 06 loại xuống còn 04 loại

Trong thời gian qua, hệ thống pháp luật về quy hoạch, phát triển đô thị và phân loại đô thị đã có những thay đổi quan trọng, tạo lập khuôn khổ pháp lý mới cho việc tổ chức, quản lý và phát triển hệ thống đô thị quốc gia.

Nghị quyết số 111/2025/UBTVQH15 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội đã thay đổi căn bản hệ thống đô thị, chuyển sang hệ thống gồm 04 loại đô thị so với 06 loại trước đây. Đồng thời, quy định thẩm quyền công nhận loại đô thị chủ yếu cho Ủy ban nhân dân cấp tỉnh thực hiện, từ đô thị loại I do Bộ Xây dựng thực hiện.

Ngoài ra, Luật Quy hoạch đô thị và nông thôn năm 2024 (được sửa đổi, bổ sung năm 2025) đã quy định việc phân loại đô thị phải được thực hiện trên cơ sở quy hoạch đô thị, quy hoạch có tính chất kỹ thuật, chuyên ngành và định hướng phát triển hệ thống đô thị được cấp có thẩm quyền phê duyệt.

Đồng thời, Luật Quy hoạch năm 2025, Luật Tổ chức Chính phủ năm 2025, Luật Tổ chức chính quyền địa phương năm 2025 và Nghị quyết của Ủy ban Thường vụ Quốc hội về phân loại đô thị đã điều chỉnh toàn diện về nguyên tắc, tiêu chí, thẩm quyền và trách nhiệm trong công tác phân loại đô thị. Do đó, các căn cứ pháp lý làm cơ sở ban hành Quyết định số 241/QĐ-TTg không còn phù hợp với hệ thống pháp luật hiện hành.

Thực hiện Luật Quy hoạch năm 2025 và các quy định của pháp luật về quy hoạch, các địa phương đã tổ chức lập, điều chỉnh Quy hoạch tỉnh thời kỳ 2021-2030, tầm nhìn đến năm 2050, trong đó đã tích hợp định hướng phát triển hệ thống đô thị phù hợp với Quy hoạch hệ thống đô thị và nông thôn và định hướng phát triển kinh tế - xã hội của từng địa phương.

Theo đó, định hướng phát triển và lộ trình phân loại đô thị đã được cập nhật, cụ thể hóa trong hệ thống quy hoạch theo quy định của pháp luật hiện hành, thay thế vai trò định hướng của Kế hoạch phân loại đô thị toàn quốc ban hành kèm theo Quyết định số 241/QĐ-TTg.

Quyết định 241/QĐ-TTg đã hoàn thành sứ mệnh

Theo đánh giá của Bộ Xây dựng, Quyết định số 241/QĐ-TTg đã được tổ chức triển khai thực hiện nghiêm túc trên cả nước. Bộ Xây dựng cũng đã có nhiều văn bản hướng dẫn các địa phương tổ chức triển khai (hơn 20 văn bản hướng dẫn).

Ủy ban nhân dân các tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương cũng đã lập và phê duyệt Chương trình phát triển đô thị tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương, cụ thể là Kế hoạch thực hiện phân loại đô thị hàng năm, 05 năm.

Tính đến tháng 7/2025 (thời điểm trước sắp xếp), cả nước có 900 đô thị, gồm 02 đô thị loại đặc biệt, 24 đô thị loại I, 38 đô thị loại II, 44 đô thị loại III, 96 đô thị loại IV và 696 đô thị loại V; tỷ lệ đô thị hóa đạt khoảng 44,9%. Công tác phân loại đô thị trong giai đoạn 2021-2025 đã góp phần hoàn thiện hệ thống đô thị Việt Nam.

So với thời điểm năm 2020, số lượng và chất lượng hệ thống đô thị toàn quốc tiếp tục phát triển mạnh mẽ, tỷ lệ đô thị hóa đã tăng từ 40% năm 2020 lên trên 45% đến cuối năm 2025.

Bộ Xây dựng đã tổ chức thẩm định 35 đề án phân loại đô thị, trong đó đã trình Thủ tướng Chính phủ ban hành Quyết định công nhận đối với 04 đô thị loại I, 11 đô thị loại II; công nhận theo thẩm quyền cho 07 đô thị loại III và 20 đô thị loại IV; Ủy ban nhân dân cấp tỉnh đã công nhận cho trên 96 đô thị loại V.

Từ những cơ sở pháp lý và thực tiễn, Bộ Xây dựng cho rằng việc dừng thực hiện kế hoạch phân loại đô thị toàn quốc giai đoạn 2021–2030 theo Quyết định số 241/QĐ-TTg là cần thiết, đúng quy định của pháp luật nhằm bảo đảm tính thống nhất, đồng bộ của hệ thống pháp luật, phù hợp với yêu cầu phát triển hệ thống đô thị và nông thôn trong giai đoạn mới. Đồng thời, tạo cơ sở để đổi mới phương thức quản lý công tác phân loại đô thị trên phạm vi cả nước theo hướng số hóa, thống nhất và cập nhật thường xuyên.

Ông Nguyễn Tri Thức

Ông Nguyễn Tri Thức thôi giữ chức Thứ trưởng Bộ Y tế

Phó Thủ tướng Thường trực Phạm Gia Túc vừa ký Quyết định số 1833/QĐ-TTg ngày 23/9/2026 của Thủ tướng Chính phủ về việc thôi giữ chức Thứ trưởng Bộ Y tế.

Theo Quyết định số 1833/QĐ-TTg, ông Nguyễn Tri Thức thôi giữ chức Thứ trưởng Bộ Y tế để thôi việc theo nguyện vọng.

Quyết định này có hiệu lực kể từ ngày ký (23/9/2026)./.