Cục Điện lực (Bộ Công thương) đang lấy ý kiến về khung giá phát điện năm 2026 đối với các nhà máy điện rác, trong đó giá trần dự kiến ở mức 2.378,39 đồng/kWh, thấp hơn 7,64% so với năm 2025. Trong bối cảnh nhiều khoản chi phí đầu tư, vận hành gia tăng, mức giá này đang đặt ra yêu cầu rà soát các thông số đầu vào, nhằm bảo đảm khung giá được tính toán sát hơn với thực tiễn.
Mức giá trên được Tập đoàn Điện lực Việt Nam (EVN) tính toán dựa trên các thông số đầu vào tham chiếu như suất đầu tư, chi phí vận hành và bảo dưỡng (O&M), suất tiêu hao nhiệt, biến động chi phí đầu tư, cơ cấu vốn và nguồn vay...
Suất đầu tư chưa phản ánh đúng mặt bằng chi phí
Về suất đầu tư tham chiếu, EVN sử dụng số liệu từ báo cáo nghiên cứu khả thi của Nhà máy Xử lý chất thải rắn Trà Vinh, ở mức 120.164.387 đồng/kW. Tuy nhiên, báo cáo này được lập cách đây khoảng hai năm nên theo các nhà đầu tư, chưa phản ánh đầy đủ mặt bằng chi phí đầu tư thực tế của các dự án điện rác hiện nay. Suất đầu tư chịu ảnh hưởng lớn từ giá thiết bị công nghệ, kim loại màu và hợp kim, thiết bị điện, nhân công kỹ thuật lắp đặt, logistics và tỷ giá.
Thực tế thời gian qua, hàng loạt tập đoàn, tổng công ty lớn đồng loạt triển khai các đại dự án hạ tầng, công nghiệp trên toàn quốc, dẫn đến tình trạng khan hiếm nghiêm trọng nhân lực kỹ thuật. Để đáp ứng tiến độ, các đơn vị thi công phải điều chỉnh tăng đơn giá nhân công lên 2-2,5 lần; cá biệt, một số tập đoàn lớn áp dụng chính sách thu hút lao động với mức lương tăng gấp 3 lần so với mặt bằng bình quân những năm trước.
Bên cạnh đó, giá sắt thép, xi măng, năng lượng và nhiều nhóm kim loại biến động mạnh, trong khi nhu cầu xây dựng lớn làm gia tăng cạnh tranh về lao động kỹ thuật cao. Số liệu thực tế tại một số dự án cho thấy, mức tăng của một số nhóm chi phí khoảng 20-30%.
Đặc biệt, lò đốt và hệ thống trao đổi nhiệt của nhà máy điện rác sử dụng khối lượng lớn thép hợp kim chịu nhiệt và kim loại màu có khả năng chống ăn mòn hóa học cao (HCl, SOx). Giá nhiên liệu và chi phí logistics duy trì ở mức cao cũng đẩy giá thành vật tư chuyên ngành tăng mạnh.
Các dự án mới đồng thời phải áp dụng công nghệ xử lý khí thải và tro bay tiên tiến hơn để đáp ứng các quy chuẩn kỹ thuật quốc gia mới, qua đó làm gia tăng chi phí đầu tư thiết bị.
Theo dữ liệu chào thầu EPC và FS cập nhật của các dự án trong 24 tháng gần đây, suất đầu tư thực tế hiện dao động từ 140-148 triệu đồng/kW. Vì vậy, các nhà đầu tư kiến nghị rà soát, hiệu chỉnh suất đầu tư, tăng khoảng 15-20% so với mức trong dự thảo, nhằm bảo đảm sát hơn với mặt bằng chi phí thực tế của thị trường.
Đồng tình với kiến nghị của các nhà đầu tư, ông Nguyễn Đức Thắng, Giám đốc Ban Kỹ thuật nhiệt điện và điện rác, Công ty TNHH Tư vấn Năng lượng VATEC - một đơn vị tư vấn chính sách nhiều năm kinh nghiệm, nhấn mạnh suất đầu tư trên chỉ phù hợp với các nhà máy điện rác quy mô lớn, có công suất phát điện từ 50 MW (điện thô) trở lên.
Với các nhà máy điện rác quy mô nhỏ, khoảng 7,5-15 MW, suất đầu tư ở mức 6.000-6.500 USD/kW (tương đương 157-169 triệu đồng/kW) sẽ hợp lý hơn. Đối với các dự án có công suất từ 15-50 MW, mức đầu tư nên ở khoảng từ 140 triệu đồng/kW.
Đề xuất nâng tỷ lệ O&M
Ông Nguyễn Đức Thắng cũng không đồng tình với tỷ lệ chi phí O&M cố định 2,1% được đưa vào tính toán giá điện rác.
Theo ông, các phân tích của Cơ quan Năng lượng Quốc tế (IEA) và Cơ quan Năng lượng Tái tạo Quốc tế (IRENA) về điện sinh khối thương mại và điện rác (Waste-to-Energy - WtE) cho thấy, chi phí O&M cố định của các nhà máy sử dụng công nghệ đốt rác phát điện, như lò ghi cơ học và lò tầng sôi, ở mức khá cao. Nguyên nhân là hệ thống xử lý khí thải phức tạp, trong khi thiết bị thường xuyên chịu tác động ăn mòn hóa học từ rác sinh hoạt.
Do đó, ông Nguyễn Đức Thắng cho rằng, tỷ lệ chi phí O&M cố định trong tính toán giá điện rác nên được điều chỉnh tăng lên đúng với thực tế.
Tại Việt Nam, rác thải sinh hoạt chưa được phân loại tại nguồn, có độ ẩm và tính axit cao, khiến thiết bị lò hơi và quạt hút bị mài mòn, ăn mòn hóa học nhanh. Bên cạnh đó, chi phí tiêu hao hóa chất như vôi, than hoạt tính, xúc tác; thay thế túi lọc bụi định kỳ; xử lý nước rỉ rác và tro bay nguy hại cũng chiếm tỷ trọng lớn trong chi phí vận hành.
Theo số liệu các doanh nghiệp gửi Bộ Công thương, tỷ lệ O&M thực tế tại một số nhà máy điện rác có thể dao động khoảng 4-7,5%, cao hơn đáng kể so với mức 2,1% đang được sử dụng trong dự thảo.
Vì vậy, các doanh nghiệp kiến nghị Cục Điện lực rà soát và điều chỉnh tỷ lệ O&M theo hướng sát hơn với chi phí vận hành thực tế của các nhà máy điện rác.
S uất tiêu hao nhiệt tinh thực tế cao gấp 1,5 lần dự thảo
Suất tiêu hao nhiệt chưa phù hợp cũng được các nhà đầu tư và giới chuyên gia kiến nghị chỉnh sửa.
EVN tính toán, mức suất tiêu hao nhiệt tinh là 2.602,8 kcal/kWh, tương ứng hiệu suất phát điện khoảng 33%. Mức hiệu suất này tiệm cận với các nhà máy nhiệt điện than sử dụng nhiên liệu ổn định.
Thực tế, chất thải rắn sinh hoạt tại Việt Nam có đặc thù độ ẩm cao, nhiệt trị thấp và thành phần biến động mạnh. Hiệu suất phát điện thực tế của các nhà máy điện rác chỉ đạt khoảng 20-24%.
Do đó, suất tiêu hao nhiệt tinh của điện rác được cho là phải nằm trong khoảng 3.583-4.302 kcal/kWh, cao gấp khoảng 1,5 lần so với mức trong dự thảo. Việc sử dụng mức hiệu suất của các nhà máy nhiệt điện than làm cơ sở áp dụng cho điện rác được cho là chưa phù hợp với đặc thù kỹ thuật của loại hình này.
Trên cơ sở đó, doanh nghiệp kiến nghị suất tiêu hao nhiệt cần được xác định trên cơ sở dữ liệu thực tế của các nhà máy điện rác có công nghệ, quy mô và điều kiện vận hành tương đồng, thay vì sử dụng thông số tiệm cận nhiệt điện than.
Điện rác giải quyết bài toán môi trường, cần tiếp tục áp giá FIT
Việc lựa chọn, cập nhật các thông số đầu vào có ý nghĩa quyết định đến mức giá điện. Nếu chưa phản ánh đúng đặc thù công nghệ, điều kiện vận hành và mặt bằng chi phí thực tế, khung giá có thể không bảo đảm hiệu quả tài chính, làm giảm sức hút đầu tư.
Đầu năm 2025, EVN từng đề xuất giá điện rác tối đa 1.974 đồng/kWh. Tuy nhiên, sau khi tính toán, rà soát số liệu thực tế, mức giá tối đa chính thức được xác định ở mức 2.575,18 đồng/kWh, chưa bao gồm thuế giá trị gia tăng.
Khoảng chênh lệch này cho thấy việc cập nhật sát các thông số đầu vào có thể tạo khác biệt đáng kể trong bài toán giá điện. Nếu không tính đúng, tính đủ chi phí, khung giá có thể làm giảm hiệu quả đầu tư, trong khi điện rác không chỉ bổ sung nguồn điện mà còn góp phần xử lý chất thải, giảm áp lực môi trường cho các địa phương.
Trong bối cảnh đó, giá trần điện rác năm 2026 dự kiến giảm 7,64%, xuống 2.378,39 đồng/kWh, làm dấy lên lo ngại về sức hấp dẫn của loại hình này.
Ông Nguyễn Đức Thắng, Giám đốc Ban Kỹ thuật nhiệt điện và điện rác, Công ty TNHH Tư vấn Năng lượng VATEC cho rằng, mức giá mới tương đương khoảng 9 US cent/kWh, thuộc nhóm thấp nếu so sánh trong các điều kiện tương đồng. Trong khi đó, chi phí xử lý rác hiện nay cũng chưa đủ hấp dẫn để tạo động lực đầu tư. Theo ông, với mức giá này, thời gian hoàn vốn có thể kéo dài 15-17 năm.
Trước thực tế điện rác vẫn là lĩnh vực “kén” nhà đầu tư, ông Thắng kiến nghị tiếp tục áp dụng giá FIT cố định 10,05 US cent/kWh trong ít nhất 20 năm. Theo ông, cơ chế này giúp ổn định dòng tiền, tạo điều kiện để doanh nghiệp thu xếp vốn dài hạn và làm việc với các ngân hàng.
Đây cũng là kiến nghị của nhiều doanh nghiệp, bởi các dự án điện rác đòi hỏi vốn lớn, thời gian thu hồi vốn dài và công nghệ phức tạp. Một cơ chế giá ổn định vì vậy không chỉ giúp doanh nghiệp tính đúng hiệu quả dự án, mà còn là điều kiện quan trọng để tạo niềm tin và thu xếp nguồn vốn dài hạn.
Trường hợp không duy trì cơ chế giá FIT, chuyển sang cơ chế khung giá mới, các doanh nghiệp kiến nghị tính toán lại đầy đủ các thông số đầu vào theo mặt bằng thực tế, từ suất tiêu hao nhiệt, suất đầu tư, chi phí vận hành và bảo dưỡng đến các yếu tố liên quan. Trên cơ sở đó, mức giá trần được đề xuất khoảng 2.700-2.800 đồng/kWh.