Khi hợp tác công – tư không chỉ là câu chuyện góp vốn: Làm sao để nguồn lực tư nhân trở thành sức bật cho kinh tế Việt Nam trong kỷ nguyên mới?

Một tuyến đường mới có thể mở rộng không gian kinh tế, một trung tâm logistics có thể giúp hàng nghìn doanh nghiệp giảm chi phí, một nguồn năng lượng mới có thể bổ sung sức mạnh cho cả hệ thống. Khi giá trị của một khoản đầu tư vượt khỏi phạm vi của chính doanh nghiệp, đó cũng là lúc nguồn lực tư nhân bắt đầu trở thành một phần năng lực phát triển của quốc gia.

Việt Nam đang bước vào một giai đoạn phát triển mới, khi yêu cầu đặt ra không chỉ là duy trì tốc độ tăng trưởng, mà còn phải nâng chất lượng tăng trưởng, năng suất, trình độ công nghệ và sức cạnh tranh của nền kinh tế. Trong bối cảnh đó, mục tiêu trở thành quốc gia phát triển, có thu nhập cao vào năm 2045 không chỉ xác lập một đích đến, mà còn đặt ra bài toán về cách Việt Nam tạo dựng đủ năng lực để đi tới đích đó.

Bởi một khát vọng, dù đủ lớn và rõ ràng, không tự tạo ra những tuyến hạ tầng kết nối các vùng kinh tế, những nguồn năng lượng mới, một chuỗi logistics hiệu quả hơn hay những công nghệ đủ sức nâng năng suất. Tất cả phải được xây dựng bằng vốn, tri thức, con người, khả năng tổ chức và hàng triệu quyết định đầu tư diễn ra trong thực tế.

Đó cũng là lý do quan hệ giữa Nhà nước và doanh nghiệp ngày càng được đặt trong một hệ quy chiếu mới. Theo GS. Nguyễn Đức Khương, Chủ tịch AVSE Global & Thành viên cấp cao tại Đại học Cambridge, Vương quốc Anh, Nhà nước giữ vai trò kiến tạo thể chế, môi trường và không gian phát triển; doanh nghiệp là chủ thể trực tiếp chuyển hóa khát vọng của đất nước thành năng lực cạnh tranh và sức mạnh kinh tế thông qua hoạt động đầu tư, kinh doanh và đổi mới công nghệ. Hai khu vực không thay thế nhau, mà bổ sung cho nhau: một bên kiến tạo điều kiện, một bên biến những điều kiện ấy thành kết quả có thể đo đếm.

Những chuyển động chính sách gần đây cũng phản ánh khá rõ tinh thần này. Nghị quyết 68-NQ/TW ngày 4/5/2025 xác định kinh tế tư nhân là “một động lực quan trọng nhất” của nền kinh tế quốc dân. Nghị quyết 79-NQ/TW ngày 6/1/2026 tiếp tục làm rõ vai trò đặc biệt quan trọng của kinh tế nhà nước và những nguồn lực Nhà nước nắm giữ. Đến Nghị quyết 27-NQ/TW ngày 28/8/2026, một yêu cầu đáng chú ý được đặt ra: chuyển mạnh từ chủ yếu dựa vào nguồn lực sẵn có sang “kiến tạo, dẫn dắt, khơi thông và kích hoạt mọi nguồn lực”.

Đặt cạnh nhau, ba định hướng cho thấy bài toán phát triển không còn đơn thuần là Nhà nước có bao nhiêu nguồn lực hay doanh nghiệp có thể bỏ ra bao nhiêu vốn. Điều quan trọng hơn là làm thế nào để nguồn lực công và tư gặp được nhau trong một không gian đủ minh bạch, đủ ổn định và đủ tin cậy, từ đó tạo ra thêm những năng lực mới cho nền kinh tế.

Khi Nhà nước kiến tạo niềm tin để nguồn lực được khơi thông

Trong một nền kinh tế ngày càng lớn và phức tạp, vai trò của Nhà nước không nhỏ đi. Ngược lại, yêu cầu đối với năng lực kiến tạo càng cao hơn khi một quyết định đầu tư có thể liên quan đến nhiều địa phương, nhiều ngành và kéo dài hàng chục năm.

Nhà nước vẫn phải làm tốt những việc thị trường khó có thể thay thế: thiết lập thể chế, xây dựng quy hoạch, bảo đảm các cân đối lớn, đầu tư vào hạ tầng nền tảng và duy trì một môi trường cạnh tranh minh bạch. Tuy nhiên, kiến tạo không đồng nghĩa với làm thay. Điều quan trọng hơn là xây dựng được một môi trường trong đó doanh nghiệp đủ tin tưởng để đưa vốn, công nghệ và nguồn lực của mình vào những mục tiêu dài hạn.

Khi hợp tác công – tư không chỉ là câu chuyện góp vốn: Làm sao để nguồn lực tư nhân trở thành sức bật cho kinh tế Việt Nam trong kỷ nguyên mới? - Ảnh 1.

Ảnh minh hoạ - Nguồn: Văn Đoan

Chuyên gia kinh tế Phạm Chi Lan từng chỉ ra một thay đổi đáng chú ý sau Nghị quyết 68 đó là doanh nghiệp tư nhân Việt Nam đang có thêm cơ hội tham gia trực tiếp vào những dự án hạ tầng quy mô lớn, thay vì chủ yếu đứng phía sau với vai trò nhà thầu phụ. Theo bà, doanh nghiệp không nhất thiết phải sở hữu sẵn toàn bộ vốn, thiết bị hay công nghệ; năng lực còn nằm ở khả năng liên danh, huy động vốn và hợp tác với những đối tác trong và ngoài nước để thực hiện dự án.

Điều đó cho thấy, vai trò của “Nhà nước kiến tạo” không không nằm ở việc cung cấp mọi nguồn lực cho doanh nghiệp, mà tạo điều kiện để những nguồn lực đang nằm rải rác trong xã hội có thể được kết nối và đưa vào sản xuất, đầu tư.

Nhưng hợp tác công - tư cũng không nên được hiểu đơn giản là Nhà nước có dự án còn doanh nghiệp bỏ vốn. Để sự đồng hành thực sự tạo ra năng lực phát triển, mối quan hệ này cần bắt đầu từ việc cùng nhìn về một mục tiêu, phân bổ nguồn lực và rủi ro hợp lý, thiết lập cơ chế giám sát minh bạch và bảo đảm lợi ích giữa Nhà nước, nhà đầu tư và xã hội được hài hòa.

Ranh giới trách nhiệm càng rõ, khả năng phát sinh cơ chế xin - cho hay lợi ích nhóm càng được thu hẹp. Ngược lại, khi luật chơi ổn định và quá trình thực thi đủ minh bạch, niềm tin của doanh nghiệp vào những chương trình phát triển dài hạn cũng có cơ sở để lớn lên.

Tinh thần này khá gần với quan điểm được nêu trong Nghị quyết 27-NQ/TW. Với các công trình liên vùng, văn kiện đặt ra nguyên tắc các địa phương “cùng quyết định, cùng góp vốn, cùng chịu trách nhiệm và cùng hưởng lợi”; đồng thời nhấn mạnh yêu cầu chia sẻ nguồn lực và lợi ích giữa quốc gia, vùng và địa phương. Ở một bình diện rộng hơn, đó cũng là điều kiện cần để nguồn lực công có thể dẫn dắt và kích hoạt thêm nguồn lực tư.

Năng lực kiến tạo của Nhà nước vì thế không chỉ nằm ở số lượng chính sách được ban hành hay quy mô của đầu tư công. Một thước đo khác quan trọng không kém là chính sách ấy có khơi thông được nguồn lực xã hội, tạo thêm niềm tin và đưa dòng vốn đến đúng những nơi có khả năng tạo ra giá trị dài hạn hay không.

Doanh nghiệp lớn thôi chưa đủ, điều quan trọng là giá trị để lại

Ở chiều ngược lại, khi Nhà nước mở thêm không gian phát triển, câu hỏi dành cho doanh nghiệp cũng thay đổi. Một doanh nghiệp có bao nhiêu vốn, doanh thu lớn đến đâu hay thực hiện bao nhiêu dự án vẫn là những chỉ dấu quan trọng, nhưng chưa nói hết vai trò của doanh nghiệp trong một nền kinh tế đang hướng tới mục tiêu phát triển dài hạn.

Điều đáng quan tâm hơn là sau mỗi khoản đầu tư, nền kinh tế có thêm năng lực gì. Một tuyến giao thông chỉ thực sự tạo ra giá trị lớn khi nó rút ngắn thời gian vận chuyển và mở rộng không gian kinh tế. Một trung tâm logistics có ý nghĩa hơn khi giúp hàng hóa lưu chuyển nhanh hơn, giảm chi phí cho nhiều doanh nghiệp khác. Một dự án năng lượng tạo tác động rộng hơn khi nguồn điện mới góp phần bổ sung năng lực cung ứng cho cả hệ thống.

Nhìn lại sự phát triển của khu vực tư nhân, chuyên gia kinh tế Phạm Chi Lan cho rằng các thế hệ doanh nhân sau Đổi mới đã có sự dịch chuyển đáng kể về tư duy. Từ mục tiêu gây dựng doanh nghiệp và tìm chỗ đứng trên thị trường trong nước, ngày càng nhiều doanh nhân hướng tới khả năng cạnh tranh rộng hơn, làm chủ sản phẩm, công nghệ và tham gia vào những thị trường vượt khỏi biên giới quốc gia.

Chính sự trưởng thành về năng lực tích lũy và tổ chức nguồn lực này đang mở ra khả năng để doanh nghiệp Việt tham gia sâu hơn vào những lĩnh vực cần vốn lớn, thời gian dài và sự phối hợp của nhiều chủ thể. 

Khi hợp tác công – tư không chỉ là câu chuyện góp vốn: Làm sao để nguồn lực tư nhân trở thành sức bật cho kinh tế Việt Nam trong kỷ nguyên mới? - Ảnh 2.

Khi giá trị của một khoản đầu tư vượt khỏi phạm vi của chính doanh nghiệp, đó cũng là lúc nguồn lực tư nhân bắt đầu trở thành một phần năng lực phát triển của quốc gia.

Chẳng hạn, ở lĩnh vực năng lượng, Nhà máy điện gió Savan 1 tại tỉnh Savannakhet, Lào cho thấy một cách tiếp cận khác. Theo T&T Group, giai đoạn đầu của dự án có công suất 300 MW, đạt vận hành thương mại ngày 26/12/2025 và cung cấp khoảng 0,9 tỷ kWh điện mỗi năm về Việt Nam thông qua hệ thống truyền tải xuyên biên giới.

Savan 1 đồng thời nằm trong khuôn khổ hợp tác năng lượng Việt Nam - Lào. Điện được sản xuất tại Lào, trong khi nguồn lực đầu tư, hệ thống truyền tải và nhu cầu tiêu thụ được kết nối trong một cấu trúc hợp tác rộng hơn. Giá trị của dự án vì thế không chỉ nằm ở sản lượng điện, mà còn ở khả năng huy động nguồn lực bên ngoài để bổ sung cho nhu cầu năng lượng trong nước và thúc đẩy liên kết kinh tế giữa hai quốc gia.

Hay trong logistics, T&T Group cùng YCH Group của Singapore phát triển Vietnam SuperPort, dự án được định hướng là trung tâm logistics thông minh đa phương thức và là cấu phần đầu tiên của Mạng lưới Logistics thông minh ASEAN. Theo T&T Group, dự án rộng hơn 83 ha, hướng tới kết nối đường bộ, đường sắt, đường hàng không và đường biển, đồng thời ứng dụng tự động hóa, robot và trí tuệ nhân tạo trong vận hành.

Khi hợp tác công – tư không chỉ là câu chuyện góp vốn: Làm sao để nguồn lực tư nhân trở thành sức bật cho kinh tế Việt Nam trong kỷ nguyên mới? - Ảnh 3.

Vietnam SuperPort là dự án được định hướng là trung tâm logistics thông minh đa phương thức và là cấu phần đầu tiên của Mạng lưới Logistics thông minh ASEAN

Nếu chỉ nhìn đây như một dự án logistics quy mô lớn, câu chuyện vẫn chưa đầy đủ. Điều đáng chú ý hơn nằm ở giá trị lan tỏa mà hệ thống này hướng tới. Dự án giúp hàng hóa di chuyển hiệu quả hơn giữa các trung tâm sản xuất, giảm chi phí logistics và cải thiện khả năng kết nối của doanh nghiệp Việt với các thị trường khu vực và quốc tế.

Nhìn từ đó, khái niệm “doanh nghiệp kiến quốc” cũng trở nên cụ thể hơn. Đó không phải là một danh xưng dành cho những doanh nghiệp có quy mô lớn, mà là cách nhìn vào khả năng doanh nghiệp sử dụng nguồn lực của mình để tạo ra những giá trị có sức lan tỏa: một hệ thống logistics giúp nhiều ngành sản xuất giảm chi phí, một nguồn năng lượng mới bổ sung cho nền kinh tế, hay một tuyến hạ tầng mở thêm không gian phát triển cho cả một vùng.

Doanh nhân Đỗ Quang Hiển, Nhà sáng lập, Chủ tịch Điều hành T&T Group, từng chia sẻ khi nói về vai trò của khu vực tư nhân trong giai đoạn mới. Theo ông, “doanh nghiệp là trung tâm, hạ tầng là nền tảng, thể chế là động lực”, nhưng điều quan trọng là những định hướng đó phải được chuyển thành hành động và kết quả cụ thể.

Ở góc độ doanh nghiệp, điều này đồng nghĩa với việc cơ hội được mở ra từ thể chế chỉ là điểm khởi đầu. Phần còn lại phụ thuộc vào khả năng huy động vốn, tiếp cận công nghệ, tổ chức thực hiện và chịu trách nhiệm đến cùng với những cam kết đã đưa ra. Đây cũng là lý do các dự án hạ tầng, logistics hay năng lượng có thể trở thành phép thử rõ nét cho năng lực thực thi của khu vực tư nhân.

Nếu một khoản đầu tư giúp hàng hóa lưu chuyển nhanh hơn, bổ sung thêm nguồn năng lượng, mở rộng khả năng kết nối của một vùng hay tạo điều kiện để những doanh nghiệp khác vận hành hiệu quả hơn, giá trị của nó đã vượt khỏi phạm vi của những con số trên sổ sách, để trở thành một phần của diện mạo đất nước và tạo ra những giá trị dài hạn cho kinh tế quốc gia.

Có thể nói, Nghị quyết 27-NQ/TW đặt tầm nhìn đến năm 2045 với một nền kinh tế dựa trên hạ tầng đồng bộ, công nghệ, đổi mới sáng tạo và các mô hình tăng trưởng xanh, số, tuần hoàn.

Để đi tới đích đó, Việt Nam không chỉ cần những doanh nghiệp lớn hơn, mà cần những doanh nghiệp có khả năng biến nguồn lực thành hạ tầng, công nghệ, thị trường và sức cạnh tranh mới. Khi năng lực kiến tạo của Nhà nước gặp được năng lực thực thi của doanh nghiệp, “Chính phủ kiến tạo, doanh nghiệp kiến quốc” mới thực sự trở thành một động lực phát triển.