Việt Nam lần đầu chế tạo thiết bị điện 500 kV thay thế hàng nhập khẩu

Từ chỗ phụ thuộc hoàn toàn vào nhập khẩu, Việt Nam đang triển khai nghiên cứu, chế tạo cuộn kháng bù ngang 500 kV phục vụ hệ thống truyền tải điện quốc gia. Dự án có tổng kinh phí hơn 82 tỷ đồng, hướng tới làm chủ công nghệ lõi và hình thành năng lực sản xuất thiết bị điện siêu cao áp trong nước.

Làm chủ thiết bị vốn phải nhập khẩu 100%

Ngày 28/9, Tổng công ty Thiết bị điện Đông Anh (EEMC) tổ chức khởi công nhiệm vụ khoa học và công nghệ cấp quốc gia “Nghiên cứu, thiết kế, công nghệ chế tạo cuộn kháng bù ngang điện áp 500 kV”.

Dự án do EEMC chủ trì, phối hợp với Trường Điện - Điện tử, Đại học Bách khoa Hà Nội thực hiện, có tổng kinh phí 82,4 tỷ đồng, trong đó ngân sách nhà nước hỗ trợ 22,2 tỷ đồng. Mục tiêu là thiết kế, chế tạo một cuộn kháng bù ngang 500 kV, công suất 120 MVAr, đáp ứng tiêu chuẩn quốc tế IEC 60076.

Đây là bước đi đáng chú ý trong nỗ lực làm chủ công nghệ thiết bị điện siêu cao áp, khi toàn bộ cuộn kháng bù ngang 500 kV sử dụng trên lưới điện Việt Nam từ trước đến nay vẫn phải nhập khẩu.

Ông Nguyễn Vũ Cường - Tổng giám đốc EEMC cho biết, việc phụ thuộc vào thiết bị nước ngoài không chỉ làm gia tăng chi phí mà còn tiềm ẩn rủi ro trong đầu tư, khai thác và vận hành hệ thống điện quốc gia.

Ông Nguyễn Vũ Cường - Tổng giám đốc EEMC.

Cuộn kháng bù ngang có vai trò hấp thụ công suất phản kháng dư trên các đường dây truyền tải dài, đặc biệt khi đường dây siêu cao áp vận hành ở chế độ thấp tải. Thiết bị giúp hạn chế hiện tượng tăng điện áp, duy trì ổn định điện áp và nâng cao hiệu quả truyền tải điện năng.

Theo Quy hoạch điện VIII điều chỉnh, giai đoạn 2021-2030 dự kiến xây dựng mới khoảng 12.944 km đường dây và 102.900 MVA trạm biến áp 500 kV. Việc mở rộng hệ thống truyền tải, cùng sự gia tăng của các nguồn năng lượng tái tạo, sẽ kéo theo nhu cầu ngày càng lớn về thiết bị kiểm soát điện áp và bảo đảm vận hành an toàn lưới điện.

Theo lãnh đạo EEMC, những năm qua, doanh nghiệp đã tập trung đầu tư mở rộng sản xuất, công nghệ, hệ thống thí nghiệm, kiểm soát chất lượng và phát triển đội ngũ kỹ sư trình độ cao.

“Việc triển khai dự án không đơn thuần nhằm tạo ra một sản phẩm mới, mà hướng tới hình thành năng lực thiết kế, chế tạo và thử nghiệm kháng điện 500 kV ngay tại Việt Nam. Khi làm chủ công nghệ, doanh nghiệp có thể chủ động nguồn cung thiết bị, giảm phụ thuộc nhập khẩu, góp phần tiết giảm chi phí đầu tư các công trình điện và nâng cao năng lực cạnh tranh của ngành cơ khí điện trong nước”, ông Cường chia sẻ.

Không chỉ có sản phẩm, phải làm chủ công nghệ lõi

Phát biểu tại buổi lễ, Thứ trưởng Bộ Khoa học và Công nghệ Lê Xuân Định đánh giá, dự án là bước đi cụ thể trong thực hiện Nghị quyết 57 về đột phá phát triển khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số quốc gia, cũng như Nghị quyết 70 về bảo đảm an ninh năng lượng quốc gia.

Bí thư Thành ủy Hà Nội Trần Đức Thắng và các đại biểu tham quan dây chuyền sản xuất, khu vực nghiên cứu - chế tạo và các trang thiết bị công nghệ của EEMC. Ảnh Quang Thái.

Theo Thứ trưởng Định, hoạt động nghiên cứu phải khắc phục khoảng cách giữa phòng thí nghiệm và thị trường, xuất phát từ những bài toán thực tiễn của nền kinh tế, lấy sản phẩm, năng lực công nghệ thực tế và giá trị gia tăng làm thước đo thành công.

Ông Định đề nghị EEMC và nhóm nghiên cứu lấy khả năng làm chủ công nghệ, độ tin cậy vận hành và tính cạnh tranh thương mại làm thước đo cao nhất. Đồng thời, dự án phải trở thành một "vườn ươm thực chiến" để đào tạo kỹ sư, chuyên gia trẻ, nâng cao năng lực nghiên cứu và phát triển của doanh nghiệp.

Phát biểu chỉ đạo, ông Trần Đức Thắng - Ủy viên Bộ Chính trị, Bí thư Thành ủy Hà Nội đánh giá, dự án là minh chứng cho mô hình hợp tác giữa Nhà nước, nhà khoa học và doanh nghiệp trong nghiên cứu, thử nghiệm và chuyển giao công nghệ.

Bí thư Thành uỷ TP Hà Nội Trần Đức Thắng phát biểu tại lễ khởi công.

Theo ông Thắng, mục tiêu tăng trưởng GDP từ 10%/năm trở lên trong giai đoạn 2026-2030 đặt ra yêu cầu mở rộng nhanh nguồn điện và hệ thống truyền tải. Vì vậy, bảo đảm an ninh năng lượng phải được nhìn nhận đồng thời trên ba phương diện: đủ nguồn cung, hạ tầng truyền tải vững chắc và khả năng làm chủ công nghệ thiết yếu.

Bí thư Thành ủy Hà Nội kỳ vọng, sau 24 tháng triển khai, dự án sẽ tạo ra sản phẩm Made in Vietnam đáp ứng yêu cầu phát triển của hệ thống điện quốc gia.

Để sản phẩm nghiên cứu thực sự đi vào cuộc sống, Bí thư Thành uỷ Hà Nội đề nghị kết nối ngay từ đầu với nhu cầu thị trường. Tập đoàn Điện lực Việt Nam (EVN) và các đơn vị liên quan cần phối hợp thử nghiệm, đánh giá sản phẩm, trao đổi về yêu cầu kỹ thuật, điều kiện vận hành và nhu cầu sử dụng trong nước.

Đặc biệt, các kỹ sư trẻ phải được trực tiếp tham gia những công đoạn khó, từng bước làm chủ thiết kế, quy trình công nghệ và kiểm soát chất lượng.

"Sau dự án, cùng với sản phẩm, chúng ta phải có được đội ngũ đủ sức đảm nhiệm những nhiệm vụ phức tạp hơn", ông Thắng nhấn mạnh.

Lãnh đạo Thành uỷ Hà Nội cho biết, thành phố đã công bố 30 bài toán lớn giai đoạn 2026-2030, mời các nhà khoa học và doanh nghiệp tham gia giải quyết; đồng thời cam kết tạo điều kiện thuận lợi cho nghiên cứu, thử nghiệm, bảo hộ sở hữu trí tuệ và thương mại hóa sản phẩm công nghệ.